Các thách thức của nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Nguyên nhân biến đổi khí hậu là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra chất thải KNK, khai thác quá mức các bể Các-bon như sinh khối, rừng, nguồn lợi thủy hải sản, hệ sinh thái v.v. Theo Nghị định thư Kyoto về BĐKH có 6 loại KNK cần phải kiểm soát: CO2, CH4, N2O, HFC, PFC và SF6. Trong đó hoạt động nông nghiêp tạo ra: CO2 do quá trình sử dụng các nguyên
liệu hóa thạch trong sản xuất; CH4 từ quá trình lên men các chất thải nông nghiệp, lên men dạ cỏ ở động vật nhai lại và N2O từ phân bón (các loại phân có chứa đạm) dùng trong trồng trọt.

Nội dung trong bài viết

  • Các thách thức của nông nghiệp trong bối cảnh BĐKH
    • Tác động của BĐKH đối với nông nghiệp
    • Sản xuất nông nghiệp với BĐKH
  • Tác động của BĐKH với Việt Nam
    • Tác động của BĐKH đến tài nguyên nước
    • Tác động của BĐKH đến sản xuất lương thực và an ninh lương thực
    • Tác động của BĐKH đến khu dân cư, cơ sở hạ tầng và du lịch
    • Tác động của BĐKH đến sức khỏe, an toàn tính mạng và phúc lợi xã hội

Các thách thức của nông nghiệp trong bối cảnh BĐKH

Tác động của BĐKH đối với nông nghiệp

Nhiệt độ trung bình tăng; lượng mưa thay đổi; biến động cả về nhiệt độ và lượng mưa; thay đổi về lượng nước; tần suất và cường độ của “những hiện tượng thời tiết cực đoan”; nước biển dâng và nhiễm mặn; biến đổi trong các hệ sinh thái, tất cả những hiện tượng trên có tác động sâu sắc đến nông nghiệp. Mức độ tác động của thời tiết cực đoan/BĐKH không chỉ phụ thuộc vào cường độ, thời gian và tần suất xuất hiện mà còn do sự kết hợp của chúng, các hiện tượng thời tiết cực đoan có thể xảy ra một cách bất ngờ, hơn nữa các tác động còn phụ thuộc vào điều kiện ở từng địa phương (vị trí, năng lực thích ứng và tính chủ động chuẩn bị trong phòng ngừa). Mức độ tác động cũng phụ thuộc vào các đối tượng và khu vực sản xuất khác nhau. Ví dụ trên phạm vi thế giới diện tích những vùng có rủi ro cao về khí hậu với 7 loại cây trồng chính (bông, lúa gạo, cà phê, đậu, hoa hướng dương, kê, đậu nành) gia tăng và thu hẹp
đối với 2 loại cây trồng là sắn và mía. Kết quả là diện tích trồng cà phê ít bị ảnh hưởng của rủi ro về khí hậu sẽ giảm từ 90,5% (tổng diện tích) vào năm 2020, xuống 83% năm 2050 và 67% vào năm 2070 (FAO, 2013).

Ngập lụt ở đồng bằng sông Cửu Long

BĐKH sẽ làm gia tăng khoảng cách giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển do các nước đang phát triển dễ bị tổn thương hơn và có ít năng lực kỹ thuật và tiềm lực kinh tế trong việc ứng phó với các mối đe dọa mới (Padgham, 2009). Số lượng trẻ em suy dinh dưỡng ở tất cả các quốc gia đang phát triển sẽ tăng từ 8,5% đến 10,3% so với các kịch bản không có tác động của BĐKH (Nelson và CS., 2010).

Sản xuất nông nghiệp với BĐKH

Năm 2014, sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và các hình thức sử dụng đất khác trực tiếp đóng góp 10,6 tỷ tấn KNK trên toàn thế giới (FAO, 2016). Tại khu vực Đông và Đông Nam Á, sản xuất lúa là nguồn phát thải chính (chiếm 26% lượng phát thải trong nông nghiệp), trong khi tại khu vực khác, chăn nuôi đại gia súc là nguồn phát thải KNK lớn nhất (chiếm từ 37-58% lượng phát thải từ nông nghiệp). Nông nghiệp cũng là nguyên nhân chính dẫn tới mất rừng và suy thoái rừng, gây ra 17% lượng phát thải KNK toàn cầu.

Các nguồn phát thải trực tiếp KNK trong nông nghiệp không chỉ có khí CO2. Nông nghiệp là nguồn phát thải khí oxit nitơ (N2O), chiếm 58% tổng lượng phát thải (chủ yếu là do đất và thông qua việc sử dụng phân bón), và khí mê-tan (CH4), chiếm 47% tổng lượng khí phát thải (chủ yếu từ chăn nuôi và trồng lúa). IPCC ước tính rằng phát thải N2O sẽ tăng 35- 60% và CH4 là 60% vào năm 2030 bao gồm cả ước tính phát thải từ diện tích đất được chuyển
đổi sang sản xuất nông nghiệp (IPCC, 2007).

Tác động của BĐKH với Việt Nam

Theo kịch bản RCP 4.5 (tương đương với kịch bản B1) về BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam năm 2016, nhiệt độ trung bình năm trên toàn quốc tăng từ 0,60C đến 2,40C, lượng mưa năm có xu thế tăng từ 5% đến 20% và mực nước biển dâng trung bình cho toàn dải ven biển Việt Nam đến năm 2050 là 22cm (từ 14cm đến 32cm), đến năm 2100 là 53cm (từ 32cm đến 76cm) (Bộ TN&MT, 2016).

Ở Việt Nam, BĐKH thể hiện rõ nhất ở sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan và thiên tai, cả về số lượng và cường độ. Nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển bất thường, phức tạp, khó dự đoán và mùa mưa bão cũng kết thúc muộn hơn. Những vùng hay xảy ra hạn hán như Trung Bộ, hạn hán có thể còn tăng lên cả về cường độ và phạm vi ảnh hưởng. Theo báo cáo của Ban chỉ đạo Trung Ương về phòng chống thiên tai, năm 2016 thiên tai xảy ra dồn dập từ đầu năm đến cuối năm, trên khắp các vùng miền trong cả nước với cường độ lớn, phạm vi rộng đồng thời thể hiện tính cực đoan, bất thường như rét hại, băng giá ở các tỉnh Bắc Bộ và hạn hán, xâm nhập mặn ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên đã đạt mức lịch sử. 10 cơn bão và 7 áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) đi vào biển Đông trong đó 6 cơn bão, ATNĐ tác động trực tiếp đến đất liền cùng với một số hình thái thời tiết khác đã gây mưa lũ đặc biệt lớn, bất thường, liên tục và kéo dài trên toàn bộ khu vực miền Trung; sạt lở bờ sông, bờ biển xảy ra nhiều nơi; dông, lốc, sét xảy ra với gió giật rất mạnh, cường độ mưa lớn tập trung vào một số khu vực (Quảng Ninh 1.557 mm tháng 8 năm 2015; Quảng Bình, Hà Tĩnh 949 mm tháng 10 năm 2016; Phú Yên 1.022 mm tháng 11 năm 2016), hay mưa trái mùa
ở ĐBSCL v.v.

Tác động của BĐKH đến tài nguyên nước

Những năm gần đây tình trạng thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp, xâm nhập mặn sâu vào vùng cửa sông ngày càng gia tăng. Dưới tác động của BĐKH, trên hầu hết hệ thống sông trong lãnh thổ Việt Nam đều có xu hướng giảm từ 3% đến 10% với các mức giảm khác nhau khá lớn giữa các sông, thậm chí giảm dòng chảy trung bình mùa cạn.

Theo kịch bản BĐKH cho Việt Nam thì tình hình hạn hán do thiếu hụt nguồn nước trong tương lai sẽ gia tăng ở các
lưu vực sông ở Việt Nam (Nguyễn Văn Thắng, 2010).

BĐKH có thể gây suy giảm đáng kể mực nước ngầm, đặc biệt là giai đoạn sau 2020 do áp lực của hoạt động khai thác phục vụ sản xuất và suy giảm lượng nước ngầm vào mùa khô. Tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, nếu lượng dòng chảy mùa khô giảm khoảng 15- 20% thì mực nước ngầm có thể hạ thấp khoảng 11m so với hiện tại. Vào mùa cạn, mực nước ngầm bị suy giảm do ít được bổ sung từ mưa kết hợp với nước biển dâng dẫn đến nước ngầm tại các vùng đồng bằng ven biển bị xâm nhập mặn, làm giảm lượng nước ngọt có thể khai thác, sử dụng (Trần Thanh Xuân và CS., 2011)
1.3.2 Tác động của BĐKH đến hệ sinh thái tự nhiên BĐKH đã tác động tới độ phủ của san hô, các rạn san hô ở vùng biển Việt Nam nằm trong tình trạng rủi ro, trong đó 50% ở mức cao (UNDP, 2015). Nếu không có hành động tích
cực và hiệu quả thì chỉ đến hết năm 2030, biển Việt Nam sẽ trở thành “thủy mạc”, không còn rạn san hô và cũng không còn môi trường sống của rất nhiều loại tôm, cá.

Rừng ngập mặn ở Việt Nam cũng chịu tác động của BĐKH. Nhiệt độ tăng làm rừng ngập mặn chuyển dịch lên phía bắc; lượng mưa tăng thì rừng ngập mặn sẽ tốt lên, nếu giảm thì thoái hóa; bão với cường độ mạnh sẽ hủy hoại rừng ngập mặn. Các hoạt động như phát triển nuôi trồng thủy sản, chuyển đổi sử dụng đất (làm muối, trồng cói, cấy lúa), khai thác quá mức (gỗ, củi) và ô nhiễm nước cũng làm gia tăng tác động của BĐKH đến rừng ngập mặn.

Nước biển dâng sẽ ảnh hưởng đến vùng đất ngập nước ven biển Việt Nam, diện tích rừng ngập mặn có nguy cơ bị thu hẹp; nghiêm trọng nhất là khu vực rừng ngập mặn dễ bị tổn thương ở Cà Mau, TP. Hồ Chí Minh, Vũng Tàu và Nam Định (UNDP, 2015).

BĐKH làm tăng nguy cơ cháy rừng khắp cả nước. Cháy rừng là một trong những đe dọa lớn nhất đối với hệ sinh thái (HST) rừng. Khô hạn cũng tạo điều kiện cho cháy rừng ở các tỉnh Tây Nguyên, miền Trung và ĐBSCL tăng cao, hàng ngàn ha đã bị thiệt hại (ADB, 2009).


Hạn hán kéo dài thường xuyên gây nên tình trạng mất mùa thậm chí làm thay đổi cấu trúc của HST nông nghiệp, các cây trồng có giá trị cao có thể bị biến mất, thay vào đó là những cây trồng chịu hạn có giá trị thấp. Nhiệt độ tăng làm nguồn thủy, hải sản bị phân tán dẫn đến suy giảm số lượng và chất lượng các HST ven biển. Sự tăng về nhiệt độ khiến tốc độ đất đai bị thoái hóa, hoang mạc hóa và nhiễm mặn ở những vùng đất khô hạn, bán khô hạn sẽ xảy ra ngày càng nhanh hơn. Hạn hán cũng ảnh hưởng đến các tỉnh Bắc và Trung bộ, mực nước trên các sông, hồ đều cạn kiệt (Mai Hạnh Nguyên, 2008), làm tổn thương các HST ở đây.

Tác động của BĐKH đến sản xuất lương thực và an ninh lương thực

An ninh lương thực quốc gia của Việt Nam trong hiện tại và tương lai chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa. Tuy nhiên trong thời gian tới, sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất cây lương thực nói riêng sẽ có nhiều thách thức do nhu cầu an ninh lương thực gia tăng, hậu quả của BĐKH, sự suy thoái tài nguyên thiên nhiên.

BĐKH gây tổn hại đến HST có xu hướng gia tăng, sản lượng lương thực, thực phẩm giảm, gây khó khăn cho tiếp cận lương thực. An ninh lương thực sẽ bị đe dọa mạnh hơn nếu không có giải pháp ứng phó hiệu quả với các hiện tượng cực đoan khí hậu.

Hậu quả của BĐKH có thể tác động trực tiếp và gián tiếp đến sản xuất nông nghiệp, có thể làm giảm sản lượng nông nghiệp ở Việt Nam khoảng 2-15% (Zhai và Zhuang, 2009). Ở Việt Nam, các cực đoan khí hậu như lũ lụt, hạn, nhiễm mặn v.v. có thể làm giảm khoảng 2.7 triệu tấn lúa/năm vào năm 2050 (Yu và CS., 2010). Nông nghiệp vùng ĐBSCL và Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung sẽ bị ảnh hưởng nặng nề của nước biển dâng (Nguyễn Hữu Ninh và CS., 2007). Mức độ phơi nhiễm với nước biển dâng sẽ cao nhất đối với sản xuất lúa, nuôi trồng thủy sản và trung bình – cao đối với cây công nghiệp và chăn nuôi ở Việt Nam. Trong bối cảnh BĐKH, sự mở rộng quy mô sản xuất và xuất khẩu lương thực có thể chịu rủi ro ngày càng cao do tác động của sự biến đổi bất thường của điều kiện thời tiết, khí hậu, đặc biệt là những hiện tượng khí hậu cực đoan.

Tác động của BĐKH đến khu dân cư, cơ sở hạ tầng và du lịch

Tác động đến khu dân cư

Các khu vực dân cư nằm trong các vùng địa lý, khí hậu khác nhau của Việt Nam có mức độ phơi nhiễm và tính dễ bị tổn thương khác nhau. Tác động của BĐKH đặc biệt được quan tâm ở các khu vực đô thị – nơi tập trung đông dân cư và là trung tâm phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, vùng và cả nước. Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á (2010), hiện tượng ngập đã ảnh hưởng đến 47% dân số thuộc diện nghèo tại Tp. Hồ Chí Minh. Hạn hán cũng thường xuyên diễn ra trong 3-4 tháng mỗi năm. Thành phố Đà Nẵng nằm ở dải ven biển miền Trung, hàng năm phải hứng chịu nhiều loại thiên tai khắc nghiệt như bão, lũ lụt, ngập úng, hạn hán, nhiễm mặn, xói lở bờ sông, bờ biển với nhiều thiệt hại lớn về người và của. Các đô thị ven biển khác và các khu dân cư vùng bờ biển cũng là các vùng dễ bị tổn thương nhất với khí hậu cực đoan.

Tác động tới cơ sở hạ tầng quốc gia

Cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống giao thông, điện, cấp thoát nước, thu gom xử lý chất thải rắn và hệ thống nhà ở, công trình đô thị. Các hệ thống này hiện tại không đáp ứng kịp nhu cầu phát triển của các đô thị Việt Nam. Lũ quét, mưa lớn đã làm phá hủy công trình cấp nước tập trung, hệ thống thoát nước bị tê liệt. Ngoài ra, nước bị nhiễm mặn gây khó khăn cho cấp nước sinh hoạt. Hạn hán và xâm ngập mặn làm một số nhà máy nước phải đóng cửa và có
nguy cơ ngừng hoạt động. Nhiệt độ tăng, khô hạn, nắng nóng còn làm tăng nhu cầu sử dụng điện, gây quá tải, hư hỏng thiết bị cấp điện, giảm hiệu suất phát điện của nhà máy nhiệt điện và gây thiếu nước cho các hệ thống làm mát của nhà máy điện đồng thời làm thay đổi sản lượng phát điện của các nhà máy thủy điện.

Hệ thống thu gom và xử lý chất thải rắn ở nhiều đô thị bị tác động bởi BĐKH. Các điểm thu gom rác và cả bãi rác nằm ở vùng trũng bị ngập do mưa lũ. Mưa lớn làm trôi rác từ các điểm thu gom ra đường, chảy nước từ bãi rác ra các vùng dân cư xung quanh gây ô nhiễm.

Hệ thống giao thông nước ta rất dễ bị tổn thương với tác động của BĐKH. Hàng năm, lũ lụt và sạt lở đất, đá gây hư hỏng cho hệ thống đường giao thông ước tính thiệt hại khoảng gần 100 triệu USD (Doãn Minh Tâm, 2001).

Tác động tới ngành du lịch

Du lịch là ngành kinh tế dễ bị tổn thương với môi trường, hầu hết các điểm du lịch của Việt Nam đều bị tổn thương bởi tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan và nước biển dâng. Bên cạnh một số tác động tích cực như kéo dài thời gian mùa du lịch do giảm số ngày rét đậm, rét hại thì hầu hết các hiện tượng thời tiết, khí hậu cực đoan đều có ảnh hưởng xấu đến hoạt động du lịch và dịch vụ. Các điểm du lịch và cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch có khả năng bị ngập, bị xói lở, suy thoái, bồi lấp thậm chí bị phá hủy do mưa bão, lốc tố và nước biển dâng. Nhiệt độ tăng có thể tăng nguy cơ cháy, gây hư hỏng, xuống cấp công trình, tăng các chi phí cho hệ thống làm mát, chi phí cho thực phẩm, nước sinh hoạt và chi phí bảo hiểm vì nguy cơ tai nạn tiềm ẩn của khách. Mưa kéo dài làm công trình dễ bị nấm mốc, làm giảm giá trị di tích. Mưa bão kết hợp triều cường và nước biển dâng xâm thực sâu vào đất liền có thể làm hư hại, giảm diện tích thậm chí biến mất các bãi tắm ven biển hoặc bào mòn, phá hủy kết cấu của công trình di tích ven biển cũng như hệ thống hạ tầng du lịch. Tác động của BĐKH đối với ngành du lịch Việt Nam trở nên nghiêm trọng hơn khi hầu hết hệ thống đô thị ven biển định hướng phát triển ngành du lịch-dịch vụ là ngành kinh tế mũi nhọn là khu vực nhậy
cảm và dễ bị tổn thương với các hiện tượng thời tiết cực đoan, BĐKH.

Tác động của BĐKH đến sức khỏe, an toàn tính mạng và phúc lợi xã hội

Các hiện tượng thời tiết cực đoạn như bão, lũ ống, lũ quét, băng giá, hạn hán ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, phúc lợi và an toàn của con người. BĐKH làm tăng khả năng xảy ra dịch bệnh; làm tăng tốc độ sinh trưởng và phát triển nhiều loại vi khuẩn và côn trùng, vật chủ mang bệnh v.v. (Campbell-Lendrum và Woodruff, 2007). Thiên tai như bão, nước dâng, ngập lụt, hạn hán, mưa lớn và sạt lở đất đá v.v. gia tăng về cường độ và tần suất làm tăng số người thiệt mạng và ảnh hưởng gián tiếp đến sức khỏe thông qua ô nhiếm môi trường, suy dinh dưỡng, bệnh tật hoặc do giảm cơ hội việc làm và thu nhập do cây trồng, vật nuôi bị tàn phá.

Các đợt rét đậm, rét hại kéo dài liên tục trên 10 ngày, thậm chí 15-20 ngày hoặc dài hơn gây tác hại nghiêm trọng tới sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là người già, trẻ em. Hạn hán gây thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng trong mùa khô đối với vùng Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh hoạt của người dân (Trần Thục, 2008). Trong thời kì khô hạn kéo dài, người dân nông thôn ở các vùng ven biển ĐBSCL và Nam Trung Bộ phải mua nước uống với giá rất cao để sử dụng cho nhu cầu hàng ngày của họ, nhiều trẻ đã phải rời bỏ gia đình và đồng ruộng để đến các thành phố hay các vùng ngoại ô tìm kiếm việc làm trong các khu công nghiệp làm nảy sinh không ít các vấn đề xã hội khác. Xâm nhập mặn đe dọa đến đa dạng sinh học, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và các HST ngọt vùng ven biển ĐBSCL ảnh hưởng sinh kế của người dân.

Ý kiến mọi người cho bài viết này

Chưa có ý kiến nào cho bài viết Các thách thức của nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Mọi người đang mong chờ đóng ý kiến của bạn.

Ý kiến của bạn