LIÊN HỆ QUẢNG CÁO: 0989.467.685 - info@caytrongvatnuoi.com

Đặc điểm sinh học của ốc hương

Chỉnh sửa lúc 26/09/2018

Ốc hương có vỏ mỏng nhưng chắc chăn, tháp vỏ bằng 1/2 chiẻu dài của vỏ. Mặt ngoài da vỏ màu trắng có điểm những hàng phiến ván màu tím, nâu, nâu đậm hình chữ nhật, hình thoi

Phân loại và hình thái cấu tạo của ốc hương

Vị trí phân loại

Ngành: Moliusca; Lớp: Gastropoda; Lớp phụ: Prosobranchia; Bộ: Neogaslropoda; Họ: Bucinidae; Giống: Babylonia Schiuter, 1838; Loài: Babylonia areoiata (Link, 1807)

Đặc điểm hình thái cấu tạo

Đặc điểm hình thái

Ốc hương có vỏ mỏng nhưng chắc chăn, tháp vỏ bằng 1/2 chiẻu dài của vỏ. Mặt ngoài da vỏ màu trắng có điểm những hàng phiến ván màu tím, nâu, nâu đậm hình chữ nhật, hình thoi. Trên tầng thân có ba hàng phiến vân màu, trên mỗi vòng xoắn ở tháp vỏ chỉ có một hàng. Lỗ miệng vỏ có hình bán nguyệt, mặt trong vỏ có màu trắng sứ, lỗ trục vỏ sâu, rõ ràng.

con oc huong

Đặc điểm cấu tạo

 

Cấu tạo giải phẫu các cơ quan nội tạng của ốc hương đực và cái

Cấu tạo giải phẫu các cơ quan nội tạng của ốc hương đực và cái

Ghi chú: dg: tuyến tiêu hóa; em: mép màng áo; ft: chân; hg: mang; mt: màng áo; op: nắp vỏ; pn: gai giao cấu; rc: ruột ngắn; sd: ống dẫn sinh dục; sp: siphon; tn: xúc tu; ts: Sản phẩm sinh dục đực (túi tinh), gp: lỗ đẻ; od: ống dẫn trứng; ut: buồng thụ tinh; ov: sản phẩm sinh dục cái (trứng)

Phân bố ốc hương

Trên thế giới

Ốc hương phân bố chủ yếu ở biển nhiệt đới Ấn Độ – Thái Bình Dương. Biển Ấn Độ có loài Babylonia spirata và loài Babylonia zeyionica phân bố ở độ sâu từ 5 – 20m nước, chất đáy cát hoặc bùn cát pha lẫn vỏ động vật chân mềm. Vịnh Thái Lan có loài Babylonia areolata phân bố ở độ sâu 5 – 15 m, chất đáy cát bùn. Ngoài ra ốc hương còn phân bố ở một số vùng biển thuộc Sri Lanca, Trung Quốc và Nhật Bản.

Trong nước

Ở Việt Nam, Ốc hương phân bố rải rác dọc ven biển từ Bắc vào Nam, trong đó khu vực phân bố chính thuộc các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên – Huế và đặc biệt nhiều ở Bình Thuận, Vũng Tàu. Khu vực ốc hương phân bố thường cách xa bờ 2 – 3 km, có nền đáy gồ ghề tương đối đốc, chất đáy là cát hay cát pha lẫn mùn bã hữu cơ, cộ sâu trung bình 8 – 12m. Ốc hương sống vùi ở đáy cát. Một số yếu tố thủy lý, thuỷ hóa vùng phân bố của ốc hương được xác định như sau:

– Nhiệt độ nước: 26 – 28°C

– Độ mặn: 32 – 34‰

– pH: 7,5 – 8

– Ôxy hoà tan: 6,2 – 8,5 mg/l


Có 3 loài ốc hương phân bố ở biển Việt Nam, trong đó loài B. areolata có sản lượng lớn nhất và phân bố rộng nhất, còn lại chỉ bắt gặp rải rác ở một vài nơi như Thanh Hóa, Quảng Ngãi, Khánh Hòa.

Khả năng thích nghi với điều kiện môi trường

Chất đáy

Ốc hương trưởng thành sống chủ yếu ở nền đáy cát, cát bùn hoặc cát có pha lẫn vỏ động vật thân mềm. Chúng thường vùi mình trong đáy và chỉ ngoi lên khi đi kiếm mồi hoặc kết cặp trong quá trình sinh sản.Chất đáy cứng như san hô, đá sỏi, vùng đáy bùn hoặc bùn cát gần cửa sông hoặc bãi bồi không có ốc hương phân bố. Ốc hương con thường kết cặp ờ vùng đáy cát có lớp bùn mềm trên bề mật, ở độ sâu thấp hơn so với ốc trưởng thành. Ốc thường vùi tập trung thành đám dày hoặc phân bố rải rác dưới lớp cát bề mặt.

Đọc thêm  Kinh nghiệm nuôi ếch thịt

Độ bẩn của đáy cũng ảnh hưởng đến khả năng phân bố của ốc. Ở những vùng đáy bẩn, có nhiều mùn bã hữu cơ và khí H2S, ốc thường không phân bố hoặc di chuyển đến vùng đáy cát sạch hơn. Trong điều kiện nuôi nhốt, vì không có khả năng tự di chuyển nên nếu đáy bẩn do sự tích tụ các chất cặn bã lâu ngày, ốc sẽ nằm trên bề mặt (không vùi trong đáy) và ngừng ăn trong một thời gian dài cho đến khi điều kiên đáy được cải thiện.

Độ mặn

Độ mặn là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại cũng như khả năng sinh trưởng và phát triển của ốc hương. Vì ốc hương là loài nước mặn, phân bố ở vùng biển khơi nên chúng là loài hẹp muối. Các thí nghiệm về khả năng thích nghi với độ mặn cho thấy: Trứng ốc hương chỉ có thể thụ tinh và phát triển bình thường đến giai đoạn veliger ở độ mặn 30 – 35‰; ở độ mặn thấp hơn 20‰ trứng không phân cắt được, độ mặn 25‰ trứng phát triển đến giai đoạn phôi vị, độ mặn trên 40‰ trứng có thể phát triển thành ấu trùng nhưng đa số đều bị dị hình. Ấu trùng bơi veliger thích nghi với độ mặn từ 20 – 40‰, trong đó độ mặn thích hợp nhất là từ 30 – 35‰. Ấu trùng bò, con non và con trưởng thành có khả năng thích nghi với độ mặn từ 15 ~ 45‰ nếu được thuần hoá dần dần. Việc tăng hoặc giảm độ mặn đột ngột đều gây chết cho ốc do bị sốc. Độ mặn thích hợp nhất cho phát triển của ốc hương là 30 – 35‰.

Nhiệt độ

Nhiệt độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động sống của ốc hương. Ốc hương có khả năng chịu đựng nhiệt độ từ 12 – 35°c. Khả năng thích ứng với nhiệt độ thấp của ốc hương tốt hơn thích ứng với nhiệt độ cao. Nhiệt độ trên 35°c đã bắt đầu gây chết ốc, nếu kéo dài trong khoảng 24 giờ. Nhiệt độ 10ºC và 38ºC là ngưỡng gây chết đối với ốc hương con và ốc trưỏng thành. Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của ốc hương là từ 26 – 28cC.

Ô-xy hòa tan

Ốc hương là loài động vật sống vùi trong đáy nên ngưỡng ôxy thường thấp. Trong điều kiện nuôi đăng lồng ở biển, mật độ ốc hương có thể nuôi từ 2.000 – 3.000 con/m2 đáy (cỡ ốc thương phẩm 100 – 120 con/kg). Tuy nhiên trong các bể nuôi ấu trùng, ốc giống hay ốc bố mẹ cần duy trì sục khí thường xuyên để nâng cao tỉ lệ sống cho ốc. Hàm lượng ôxy hoà tan cần duy trì ở mức từ 4 – 6 mg O2/l.

pH

Yếu tố pH không ảnh hưởng nhiều đến ốc hương giai đoạn sống đáy, con non và con trưởng thành nhưng có tác động nhất định đến ấu trùng ở giai đoạn bơi. Nếu pH < 4 hoặc pH >11 ấu trùng sẽ chết do hàm lượng acid hoặc kiềm trong nước quá cao. pH từ 6 – 9 là tốt nhất cho tăng trưởng của ấu trùng.

Đọc thêm  Lựa chọn qui mô trại sản xuất giống hàu Thái bình dương

Đặc điểm dinh dưỡng của ốc hương

Đặc điểm dinh dưỡng của ốc hương thay đổi theo giai đoạn phát triển.

Giai đoạn ấu trùng

Giai đoạn phát triển trong bọc trứng, ấu trùng dinh dưỡng chủ yếu bằng noãn hoàng. Hoạt động của cơ quan tiêu hóa chỉ bắt đầu khi ấu trùng veligcr nở ra. Ở giai đoạn này, ấu trùng có khả năng ăn lọc các loại tảo đơn bào kích thước nhỏ như Nannochloropsis oculata, Chaetoceros muelleri, Chloella sp, Isochloropis sp. Hoạt động liên tục của hai cánh tiêm mao không chỉ giúp ấu trùng bơi mà còn tạo dòng nước đưa thức ăn vào miệng. Sau một tuần nở ra, ấu trùng có thể ăn tảo có kích thước lớn hơn như Platymoms sp. Giai đoạn biến thái là thời gian ấu trùng hoàn thiện cơ quan tiêu hóa để thích nghi với đời sống dáy và chuyển sang đời sống ăn thịt.

Giai đoạn con non và trưởng thành

Kết thúc giai đoạn bơi chuyển sang giai đoạn bò sống đáy, Ốc hương đã có khả năng ăn mồi động vật như thịt tôm, cá, động vật thân mềm hai vỏ. Chúng nhận biết mùi và tìm đến mồi rất nhanh nhờ hoại động của xúc tu và các cơ quan cảm giác. Ốc hương ăn xác động vật, kể cả ốc hương chết nhưng đặc biệt chúng không ăn lẫn nhau khi còn sống. Ngoài ra chúng còn có khi năng lựa chọn loại thức ăn ưa thích. Tốc độ sinh trưởng của ốc phụ thuộc vào khả năng tiêu tốn và sử dụng thức ăn của chúng.

Thức ăn ưa thích của ốc hương là động vật chân mềm hai vỏ (trai, sò, nghêu, sút), mực, các loại giáp xác (tôm, cua, ghẹ), cá. Hệ số thức ăn dao động tùy thuộc vào môi trường nuôi, loại thức ăn sủ dụng và giai đoạn sinh trưởng, từ 3,5 – 7,2% (trung bình 5,2%). Lượng thức ăn tieu thụ trên ngày dao động từ 5 – 22% (trung bình 12%) tùy thuộc vào loại thức ăn và điều kiện môi trường nuôi. Lượng thức ăn tiêu thụ khác nhau đối với mỗi loại thức ăn khác nhau, trong đó, thức ăn là nhuyễn thể hai vỏ, tôm có chất lượng cao, mùi vị ưa thích được ốc ăn nhiều nhất, ngược lại, các loại cá ít được ốc ưa thích.

Bạn có muốn nhận nội dung tương tự Thủy sản qua email không?