August 2019 02:24:42 PM

Tiêu chuẩn dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp cho gia cầm

Việt Nam có bộ tiêu chuẩn thức ăn hỗn hợp cho gia cầm. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn này chỉ có một số chỉ tiêu chính, chúng không có đầy đủ chỉ tiêu như tiêu chuẩn của nước ngoài.

Bên cạnh đó, các giống gia cầm được nhập vào nước ta thường xuyên, việc ban hành tiêu chuẩn thức ăn hỗn hợp của gia cầm không bắt kịp với việc nhập giống mới nên người ta thường sử dụng ngay tiêu chuẩn của nước ngoài để xây dựng công thức thức ăn hỗn hợp cho các giống nhập nội. Bởi các lý do trên, chúng tôi xin giới thiệu một số tiêu chuẩn dinh dưỡng thức ăn hỗn hợp của nước ngoài cùng với một số tiêu chuẩn của Việt Nam.

Tiêu chuẩn dinh dưỡng thức ăn hỗn hợp của nước ngoài, bên cạnh các chỉ tiêu chính như năng lượng, protein, xơ, canxi, photpho còn có các chỉ tiêu về axit amin thiết yếu, vitamin, khoáng vi lượng. Tuy nhiên, trong thực tiễn sản xuất người ta chỉ phân tích một số chỉ tiêu chính của nguyên liệu, còn các chỉ tiêu khác (axit amin, vitamin, khoáng vi lượng) thì dựa vào cơ sở dữ liệu có sẵn của phần mềm. Cơ sở dữ liệu này được thiết lập bằng cách tính hàm lượng trung bình của các chỉ tiêu trên từ kết quả phân tích nhiều mẫu của từng loại nguyên liệu (ngô, khô dầu đậu tương, bột cá, cám gạo, cám mỳ…). Khi phối hợp thức ăn hỗn hợp bằng các loại thức ăn thông dụng thì sự thiếu hụt axit amin, vitamin, khoáng vi lượng trong thức ăn hỗn hợp đã được dự đoán trước. Bởi vậy, người ta thường chỉ định việc bổ sung axit amin, premix vitamin, premix khoáng vào thức ăn hỗn hợp với một tỷ lệ nhất định (liều lượng bổ sung thường được tính theo phần trăm) theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Tiêu chuẩn dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp cho gà

Tiêu chuẩn dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp cho gà thịt thương phẩm (gà Broiler)

Thông thường thức ăn hỗn hợp cho gà Broiler được chia làm 3 giai đoạn, nhưng cũng có cơ sở chăn nuôi (hãng sản xuất thức ăn) chỉ chia làm 2 giai đoạn. Tùy theo thời gian kết thúc vỗ béo để giết thịt mà thời gian sử dụng thức ăn ở các giai đoạn khác nhau: (1) Thức ăn khởi động; (2) Thức ăn sinh trưởng; (3) Thức ăn vỗ béo (kết thúc).

Với các nước có nền chăn nuôi gia cầm phát triển, thức ăn cho gà Broiler còn được sản xuất cho nuôi tách trống, mái, cho gà Broiler xuất bán ở khối lượng khác nhau và cho gà Broiler nuôi trong điều kiện nhiệt độ cao ở mùa hè.

Tiêu chuẩn dinh dưỡng của thức ăn Broiler chung trống mái xuất bán ở khối lượng <3,0kg
Tiêu chuẩn dinh dưỡng của thức ăn Broiler chung trống mái xuất bán ở khối lượng <3,0kg

Tiêu chuẩn thức ăn hỗn hợp ở bảng trên được chia thành 3 giai đoạn. Giai đoạn thức ăn khởi động, sinh trưởng và kết thúc.

Thức ăn giai đoạn khởi động yêu cầu có hàm lượng protein cao (22 – 25%) và các chất dinh dưỡng khác (axit am in, khoáng, vitamin…) cũng cao. Đó là vì khả năng thu nhận thức ăn của gà con ở giai đoạn này rất thấp (7 – 10g/con/ngày) nên thức ăn phải có nồng độ dinh dưỡng cao thì mới đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng của gà. Để thức ăn đạt được tỷ lệ protein, axit amin cao thì cần phải phối hợp vào thức ăn hỗn hợp các nguyên liệu thức ăn giàu protein chất lượng cao như bột đậu tương, bột cá > 55% protein, khô dầu đậu tương tách vỏ. Không nên phối hợp vào thức ăn hỗn hợp bột các loại củ vì chúng nghèo protein, và cũng không nên phối hợp các loại cám vì hàm lượng xơ trong chúng cao.

Thức ăn giai đoạn sinh trưởng yêu cầu có nồng độ năng lượng, protein và các chất dinh dưỡng khác cao ở mức độ vừa phải. Vì ở giai đoạn này, khả năng thu nhận thức ăn của gà đã nhiều hơn (10 – 30g/con/ngày). Có thể phối hợp các nguyên liệu thức ăn như bột cá có chất lượng cao trung bình (>45% protein), khô dầu đậu tương không tách vỏ và phối hợp bột các loại củ, cám với tỷ lệ thấp vào thức ăn hỗn hợp.

Thức ăn giai đoạn kết thúc yêu cầu có nồng độ năng lượng cao, nhưng protein và các chất dinh dưỡng khác lại thấp hơn hai giai đoạn trước. Điều này đòi hỏi phải phối hợp vào thức ăn hôn hợp các nguyên liệu giàu năng lượng (bột hạt hòa thảo, bột các loại củ, dầu thực vật…), có thể phối hợp các loại nguyên liệu giàu protein chất lượng trung bình như bột cá 40 – 50% protein, khô dầu các loại và có thể phối họp cám, bột lá thực vật vào thức ăn hỗn hợp.

Khi xây dựng công thức thức ăn hỗn hợp cho các giống gà thịt là các giống gà lông màu và các giống gà không phải là gà thịt siêu tăng trọng (tăng trọng trung bình) cũng cần lưu ý đến đặc điểm của tiêu chuẩn thức ăn hỗn hợp trong các giai đoạn để đưa các nguyên liệu thích hợp vào công thức thức ăn. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là nồng độ năng lượng và các chất dinh dưỡng khác thường ở mức thấp hơn so với tiêu chuẩn thức ăn hỗn hợp của gà thịt siêu tăng trọng.

Tiêu chuẩn dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp gà sinh sản

Gà sinh sản được chia làm 5 – 6 giai đoạn: Giai đoạn gà con (0 – 41 hoặc 0 – 20 và 21 – 41 ngày tuổi), giai đoạn gà giò (42 – 104 ngày tuổi), giai đoạn gà đẻ khởi động (105 ngày tuổi – đẻ 5%), gà đẻ pha I và pha II (đẻ 5% đến kết thúc). Tùy điều kiện chăn nuôi của mỗi nước có thế thêm hoặc rút bớt sự chia giai đoạn cho phù hợp.

Tiêu chuẩn dinh dưỡng của thức ăn cho gà mái bố mẹ hướng thịt (Ross Broiler breeder - 2009)
Tiêu chuẩn dinh dưỡng của thức ăn cho gà mái bố mẹ hướng thịt (Ross Broiler breeder – 2009)

Ghi chú: TAKĐ: Thức ăn khởi động; s.truởng: Sinh trưởng; TS – TH: Tổng số – Tiêu hóa; NLTĐ: Năng lượng trao đổi

Ứng với mỗi giai đoạn tuổi, có tiêu chuẩn dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp riêng cho nó, gọi là tiêu chuẩn dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp (TCDDTĂHH) ăn theo giai đoạn, nói chung có 5 TCDDTĂHH sau:


  • TCDDTĂHH gà con – giai đoạn từ 0 – 6 tuần tuổi.
  • TCDDTĂHH gà dò – giai đoạn từ 7 – 19 tuần tuổi.
  • TCDDTĂHH gà đẻ khởi động – giai đoạn từ 20 – 22 tuần tuổi.
  • TCDDTĂHH gà đẻ pha ỉ – giai đoạn từ 23 – 40 tuần tuổi.
  • TCDDTĂHH gà đẻ pha II – giai đoạn từ 41 – 66 (68) tuần tuổi.

Tiêu chuẩn thức ăn hỗn hợp của gà sinh sản không yêu cầu nồng độ năng lượng, protein và các chất dinh dưỡng khác cao như gà thịt. Vì nồng độ các chất dinh dưỡng cao sẽ làm cho gà sinh trưởng nhanh, quá béo và có khối lượng lớn. Điều này không chỉ ảnh hưởng tới sức sản xuất trứng của gà mà còn làm lãng phí thức ăn dùng cho duy trì khối lượng lớn của gà.

Gà sinh sản ở giai đoạn còn nhỏ (0 – 20 và 21 – 42 ngày tuôi), mặc dù yêu cầu trong năng lượng trong 1 kg thức ăn và tỷ lệ protein không cao như yêu cầu của gà thịt nhưng cũng cần phải chọn lựa các nguyên liệu thức ăn có chất lượng cao để phối hợp vào thức ăn hỗn hợp giống như giai đoạn đầu của gà thịt.

Ở giai đoạn sinh trưởng (42 – 104 ngày tuổi), yêu cầu năng lượng, protein và các chất dinh dưỡng khác trong thức ăn thường thấp hơn các giai đoạn khác. Đây là giai đoạn có thể đưa vào thức ăn hỗn hợp các nguyên liệu có giá trị dinh dưỡng trung bình, giá lkg nguyên liệu thấp như cám các loại, bột các loại củ, bột cá 35 – 45% protein, khô dầu các loại nhằm giảm chi phí thức ăn cộng dồn cho một đơn vị sản phẩm.

Nồng độ năng lượng, protein và các chất dinh dưỡng khác ở giai đoạn đẻ cao hơn so với giai đoạn sinh trưởng vì giai đoạn này cần có thêm năng lượng và các chất dinh dưỡng cho việc sản xuât trứng. Giai đoạn đẻ 5% đến kết thúc, cần đặc biệt quan tâm đến tỷ lệ canxi trong thức ăn (phải đạt tỷ lệ trên 3%), vì canxi là nguyên liệu cho việc hình thành vỏ trứng. Thiếu canxi trong thức ăn trong giai đoạn ngăn thì việc hình thành vỏ trứng sẽ được huy động canxi từ xương của gà, thiếu lâu dài, nguồn canxi trong cơ thể bị cạn kiệt, gà sẽ đẻ ra trứng có vỏ mềm “ đẻ non” và dừng đẻ. Trong giai đoạn đẻ, việc bổ sung sắc tố hoặc phối hợp bột lá thực vật giàu sắc tố vào thức ăn là hết sức cần thiết. Thiếu sắc tố, lòng đỏ trứng chỉ có màu vàng nhạt, nếu là trứng gà thương phẩm thì sẽ làm giảm thị hiếu của người tiêu dùng, còn nếu là trứng gà bố mẹ thì sẽ làm giảm tỷ lệ trứng có phôi, trứng ấp nở và tỷ lệ gà con loại I.

Tiêu chuẩn dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp cho các loại gia cầm khác

Tiêu chuẩn thức ăn hỗn hợp của các loại gia cầm khác cũng giống như tiêu chuẩn thức ăn hỗn hợp của gà, nó cũng được chia thành các giai đoạn, nồng độ năng lượng, protein, axit amin và các chất dinh dưỡng khác trong các giai đoạn cũng có diễn biển tương tự như trong các giai đoạn của gà. Do đó việc phối họp các nguyên liệu thức ăn cũng cần có sự lưu ý như đối với thức ăn cho gà. Tuy nhiên, từng loại gia cầm khác nhau (ngan, vịt, đà điểu, bồ câu, chim cút…) có sự chia giai đoạn khác nhau và nồng độ năng lượng, các chất dinh dưỡng trong thức ăn cũng có sự khác nhau.

Tiêu chuẩn dinh dưỡng thức ăn hỗn hợp của ngan và vịt

Mặc dù chăn nuôi thủy cầm rất phát triển ở Việt Nam nhưng đến 2011 mới có những nghiên cứu khá đầy đủ về nhu cầu dinh dưỡng của chúng thông qua đề tài nghiên cứu khoa học độc lập cấp Nhà nước. Tiêu chuẩn thức ăn hỗn hợp cho ngan và vịt được trình bày tại bảng dưới.

Tiêu chuẩn dinh duỡng của thức ăn cho ngan, vịt hưóng thịt, hướng trứng bố mẹ và thương phẩm (Trần Quốc Việt và cộng sự, 2011)
Tiêu chuẩn dinh duỡng của thức ăn cho ngan, vịt hưóng thịt, hướng trứng bố mẹ và thương phẩm (Trần Quốc Việt và cộng sự, 2011)

Ở nước ta, chăn nuôi đà điểu mới phát triển khoảng hơn một chục năm trở lại đây. Nghiên cứu về dinh dưỡng của đà điểu chưa nhiều và chưa hệ thống. Vì vậy, khi xây dựng công thức thức ăn hỗn hợp cho đà điểu nên tham khảo tiêu chuẩn của nước ngoài kết hợp với tham khảo các kết quả nghiên cứu về dinh dưỡng của đà điểu ở nước ta.

Tiêu chuẩn dinh dưỡng của thức ăn cho đà điểu
Tiêu chuẩn dinh dưỡng của thức ăn cho đà điểu

Tiêu chuẩn thức ăn hỗn hợp của đà điểu cũng được chia thành các giai đoạn giống như gà. Có một số điểm khác biệt về hàm lượng các chất dinh dưỡng trong thức ăn của đà điểu so với gà, đó là nồng độ năng lượng trao đổi trong thức ăn của đà điểu thấp hơn (gà thịt khoảng từ 3.000 – 3.200 Kcal/kg, đà điểu nuôi thịt từ 2.200 – 2.900 Kcal/kg, gà sinh sản từ 2.600 – 2.800 Kcal/kg, đà điểu sinh sản từ 2.000 – 2.200 Kcal/kg). Tỷ lệ protein trong thức ăn của đà điểu cũng thấp hơn của gà. Đà điểu có khả năng tiêu hóa tốt thức ăn thô, xơ. Vì vậy, thức ăn này có thể chiếm từ 8 – 20% trong thức ăn của đà điểu nuôi thịt và 30 – 40%, trong thức ăn của đà điểu sinh sản.

Đà điểu yêu cầu năng lượng trao đổi, protein trong thức ăn thấp, tỷ lệ thô, xơ cao. Vì vậy có thể sử dụng các loại phụ phẩm nông nghiệp phối họp vào thức ăn của đà điểu, cũng có thể cung cấp thức ăn thô xanh trực tiếp cho đà điểu tạo thành khẩu phần ăn giống như khẩu phần của gia súc ăn cỏ (thức ăn hỗn hợp + thức ăn xanh).

Tiêu chuẩn dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp cho gà sao

Gà Sao được nhập vào nuôi ở nước ta khoảng hơn một chục năm trở lại đây. Nghiên cứu về dinh dưỡng của gà sao chưa nhiều. Tiêu chuẩn ăn và tiêu chuẩn thức ăn hỗn hợp của gà sao chủ yểu được tham khảo của nước ngoài kết hợp với thực tiễn chăn nuôi gà sao ở Việt Nam. Tiêu chuẩn thức ăn hỗn hợp của gà sao nuôi thịt và sinh sản gần tương tự như gà nuôi thịt và gà sinh sản thông thường.

Tiêu chuẩn dinh dưỡng của thức ăn cho gà Sao nuôi thịt
Tiêu chuẩn dinh dưỡng của thức ăn cho gà Sao nuôi thịt
Tiêu chuẩn dinh dưỡng của thức ăn cho gà Sao sinh sản
Tiêu chuẩn dinh dưỡng của thức ăn cho gà Sao sinh sản

Tiêu chuẩn dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp cho bồ câu

Ở nước ta, nghiên cứu về dinh dưỡng của bô câu hầu như chưa có. Vì vậy, khi xây dựng công thức thức ăn hồn hợp cho bồ câu nên tham khảo tiêu chuẩn ăn và tiêu chuẩn thức ăn hỗn hợp cho bồ câu của nước ngoài.

Tiêu chuẩn dinh dưõng của thức ăn cho chim bồ câu Pháp
Tiêu chuẩn dinh dưõng của thức ăn cho chim bồ câu Pháp

Tiêu chuẩn dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp cho chim cút

Chim cút được nhập vào nuôi ở nước ta khoảng hơn hai chục năm trở lại đây. Vì chim cút có khối lượng nhỏ, dễ nuôi nên chăn nuôi chim cút phát triển nhanh chóng trong các gia đình ở cả thành thị và nông thôn, nhiều trang trại lớn với hàng chục ngàn chim cút nuôi thịt và sinh sản đã xuất hiện. Có một thời trứng chim cút được coi như một nguyên liệu không thể thiểu được của phở, hủ tiếu, thịt chim cút được coi như một món ăn không thể thiếu được trong các bữa tiệc. Tuy nhiên, nghiên cứu về dinh dưỡng của chim cút ít được quan tâm. Vì vậy khi xây dựng công thức thức ăn hỗn hợp cho chim cút nên tham khảo tiêu chuẩn thức ăn hỗn hợp của nước ngoài kết hợp với thực tiễn chăn nuôi chim cút ở Việt Nam.

Tiêu chuẩn dinh dưõng của thức ăn cho chim cút (Coturnix)
Tiêu chuẩn dinh dưõng của thức ăn cho chim cút (Coturnix)

Nhìn chung, tiêu chuẩn thức ăn hỗn hợp của chim cút cũng gần giống như tiêu chuẩn thức ăn hỗn hợp của gà. Điều khác biệt là nồng độ năng lượng trao đổi và tỷ lệ protein trong thức ăn của chim cút sinh sản cao hơn so với gà sinh sản. Đó là vì người ta không khống chế độ béo của chim cút sinh sản, chim cút đẻ hết chu kỳ có thể được bán ngay để giết thịt.

Thức ăn hỗn hợp của chim cút nuôi thịt có tỷ lệ protein, các chất dinh dưỡng khác cao và tỷ lệ này không đổi trong suốt quá trình nuôi. Vì chim cút có khối lượng nhỏ nhưng lại có nhu cầu dinh dưỡng cao (giống như các loài chim khác), mặt khác vòng đời nuôi thịt của nó ngắn nên không nhất thiết phải chia thức ăn hỗn hợp thành các giai đoạn giống như gà.

Ý kiến mọi người cho bài viết này

Chưa có ý kiến nào cho bài viết Tiêu chuẩn dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp cho gia cầm. Mọi người đang mong chờ đóng ý kiến của bạn.

Ý kiến của bạn