Sâu, bệnh hại rau và cách phòng trừ

Hình đại diện Sâu, bệnh hại rau và cách phòng trừ
Hình đại diện Sâu, bệnh hại rau và cách phòng trừ

Các loại sâu gây hại cho rau và cách phòng trừ

Rau là thức ăn giàu dinh dưỡng cho người, đồng thời cũng là nguồn thức ăn của nhiều động vật trong đó có sâu và các vi sinh vật gây hại khác. Vì thế rau thường bị một số loài sâu gây hại rau:

Sâu tơ (Pleutella xylostella)

Sâu tơ là loài sâu, họ Yponomeulidae, hại các loại rau thuộc họ cải như su hào, bắp cải, cải xanh, su lơ, ở các vùng trồng rau trên khắp thế giới.

Vòng đòi sâu tơ 20 – 40 ngày. Trứng hình bầu dục màu vàng nhạt, sâu non màu xanh nhạt, sâu đẫy sức dài 8 – 10mm, thường nằm dưới mặt lá non hoặc lá bánh tẻ. Khi động vào chúng nhả tơ buông mình xuống dưới. Nhộng màu vàng nhạt, dài 5 – 6mm, bên ngoài kén có lớp tơ mỏng. Ngài dài 6 – 7mm. Màu xám đen, thường nấp dưới mặt lá. Khi bị khua động thì bay từng đoạn ngắn rồi lại nấp vào tán lá. Sâu non lúc nhỏ gậm phía dưới mặt lá thành từng lỗ, để lại lớp biểu bì ở mặt trên, đến tuổi thứ 2 ăn thủng lá thành từng vùng nhỏ. Sâu phá hại nặng nếu không kịp thời phát hiện. Sâu phát triển nhiều từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau, đặc biệt nhiều từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau.

Phòng trừ sâu tơ bằng cách luân canh giữa cây họ cải và các cây họ khác như trồng cải xen với cà chua. Bắt nhộng, vệ sinh đồng ruộng. Tưới rau vào lúc chiều mát, khi Mặt trời sắp lặn. Chỉ dùng thuốc khi sâu còn nhỏ; phun thuốc luân phiên, phun thuốc trừ sâu ở vườn ươm và thòi kỳ cây con bằng Sherzd, Deeks, nonolt. Dùng thuốc BT hoặc chế phẩm NPV theo chỉ dẫn. Kết thúc phun thuốc trưóc lúc thu hoạch 10 – 15 ngày.

Sâu khoang (Spodorptera liture)

Loài sâu ăn tạp, họ Noctỉudae, phá hại cây trồng và cây dại thuộc nhiều họ thực vật khác nhau. Thường gặp ở bắp cải, khoai tây, rau muống, khoai lang, khoai sọ, cà.

Đẻ trứng thành ổ trên lá, ngoài phủ bằng lớp lông mịn. Sâu non lúc nhỏ sống thành đám về sau phân tán. Vòng đòi trung bình 22 – 30 ngày. Sâu non có 6 tuổi, màu thay đổi từ xanh lục đến nâu vàng. Sâu đẫy sức màu xám hoặc đen sẫm, dài 38 – 50mm. Nhộng màng hình ống dài 17 – 20mm, màu nâu hoặc màu cánh gián có nhiều vân đen ở trên, Sâu phá hại mạnh vào tháng 5 – 6.

Phòng trừ bằng cách vệ sinh đồng ruộng trước vụ gieo trồng. Dùng thuốc Decis, Sherpa theo chỉ dẫn và sử dụng chế phẩm NPV và BT (Xem thêm Thuốc trừ sâu sinh học).

Sâu xám (Agrotis ypsilon)

Loài sâu phân bố rộng ở nhiều nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, phá hại hoa màu, rau, lương thực, họ Noctuidae.

Vòng đòi có 4 giai đoạn: bướm, trứng, sâu non và nhộng. Bướm màu nâu tối hoặc xám tro, dài 16 – 23mm. Trứng hình bán cầu, lúc mới đẻ màu trắng sữa, sau chuyển sang hồng hoặc tím. Sâu non màu xám tối hoặc đen bóng. Sâu có 6 tuổi kéo dài 22 – 53 ngày tùy thuộc nhiệt độ: tuổi 1 – 2 gặm biểu bì hoặc ăn thủng lá, tuổi 3 bắt đầu cắn đứt ngang thân cây con. Nhộng hình ống dài 18 – 24mm, thon dần về phía đuôi. Ở Việt Nam, sâu gặp khắp các tỉnh phía Bắc đến Thừa Thiên Huế. Sâu phá hại từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, mạnh nhất là từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau.

Phòng trừ bằng cách diệt bướm bằng bả chua ngọt đầu vụ gieo; làm đất ải và diệt sạch cỏ trong ruộng; dùng thuốc Basudin hạt rắn vào đất theo hàng cây hoặc Diazinon, Decis phun vào gốc theo chỉ dẫn.

Bọ nhảy sọc thẳng (Phyllotrata rectilineata)

Loài côn trùng họ Chrysomelidae. Bọ trưởng thành dài 2 – 4mm. Trên cánh cứng có nhiều chấm đen xếp thành hàng dọc song song nhau. Giữa cánh có sọc màu vàng nhạt dọc theo cánh. Sâu non hình giun, màu vàng tươi, sông và hóa nhộng dưới đất. Bọ nhảy có tập tính giả chết, ưa khô và ấm. Đẻ trứng dưới đất và rễ cây. Bọ trưởng thành vận động nhanh, cắn thủng lá. Xuất hiện và phá hại mạnh vào tháng 3 – 5 và tháng 7 – 9, mật độ 1000 con/m2. Vòng đòi 19 – 54 ngày; trứng 3 – 9 ngày; sâu non 13-28 ngày; trưởng thành 3 – 17 ngày.

Bọ nhảy phá hại bắp cải, rau cải, su hào, cây con trong vườn ươm. cắn rễ phụ dưới đất, đục gốc rễ chính làm cây úa vàng.

Phòng trừ

Trồng luân canh giữa cây họ Cải với các loài cây khác họ. Làm sạch cỏ bò, vườn ươm.

Khi mật độ bọ nhảy cao thì dùng Diazinon sữa 50% pha 1/1000 hoặc Diplerex pha 1/600 phun 500 lít thuốc đã pha cho 1 hecta, phun từ mép ngoài vào trong.

Rệp rau cải (Brevicoryne brassicae)

Loài rệp rất nhỏ, họ Aphididae, to bằng hạt vừng màu vàng hay xanh vàng. Phá hoại nhiều loài rau cải. Có 2 loại hình rệp: rệp cái có cánh và không cánh, do rệp cái có cánh đẻ ra.

Rệp cái không cánh to hơn, dài 2mm. Sinh sản rất nhanh, tập trung ở các búp và cành lá cây nông nghiệp, chích hút nhựa cây, làm cây còi cọc, lá héo vàng khô xoăn lại. Ngoài ra rệp còn làm môi giới truyền bệnh do vi rut.

Phòng trừ bằng cách làm vệ sinh đồng ruộng, diệt cỏ dại. áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp. Tưới nước đầy đủ cho rau.

Sâu xanh (Helicoverpa armigera)

Loài sâu gây hại rau muống, cà, ớt, đậu đỗ thuộc họ Noctuidae. Vòng đời 35 – 70 ngày (phụ thuộc vào nhiệt độ), thời gian sâu non 15 – 22 ngày. Sâu non đẫy sức dài 36 – 45mm, màu từ xanh nhạt đến nâu vàng, hồng hoặc nâu xám tùy theo tuổi và thức ăn. Nhộng màu cánh gián nằm dưới lớp đất sâu 2 – 3cm. Ngài màu nâu vàng. Trứng hình bán cầu, màu ngọc trai.

Sâu đục vào nụ hay quả non, ăn rỗng bên trong làm nụ và quả rụng. Sâu phát sinh có thể phá hoại quanh năm, nhưng nặng nhất vào mùa xuân và đầu hè.

Phòng trừ bằng biện pháp tổng hợp: bố trí các loại rau trồng thích hợp, tôt nhất nên luân canh với lúa nước. Dùng thuốc hóa học như Sherpa, Decis, Diazino, chế phẩm BT và NPV theo chỉ dẫn.

Ghi chú:

Chế phẩm BT được tạo từ vi khuẩn Bacillus thuringiesis chiếm hơn 90% doanh số bán của tất cả các chế phẩm sinh học. Chế phẩm NPV chế phẩm có chứa virut NPV của sâu xanh.

Nhện đỏ (Tetranychus sp.)

Chi nhện ký sinh trên nhiều cây trồng, họ Tetranychidae. Nhện sống tập trung ỏ mặt dưối lá bánh tẻ và lá già, tạo ra các vết vàng hoặc nâu vàng theo gân chính làm cho lá bị thủng, rụng hàng loạt,

Trứng nhện đỏ hình bán cầu, trắng nhạt bám vào mặt dưới của lá. Thòi gian trứng 4 – 5 ngày. Sâu non 3 – 5 ngày, sâu non có 6 chân, màu hồng. Có 2 giai đoạn: ấu trùng có 4 đôi chân và có màu xanh hay đỏ. Thời gian ấu trùng 6 – 10 ngày. Nhện trưởng thành hình bầu dục màu đỏ hoặc xanh. Con đực nhỏ hơn con cái, con cái sống 3 tuần, đẻ 200 trứng.

Nhện đỏ sống chủ yếu ở nhiệt đới. Hại rau ngót, hại nặng trong điều kiện khô hạn. Cần kiểm tra ruộng rau thường xuyên, phát hiện sớm để phòng trừ bằng một số thuốc Comite 73 EC, Pegasus 500 sc, Ortas 5 sc theo chỉ dẫn.

Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella)

Loài sâu, họ Phyllonistidae. Vòng đời 14 – 32 ngày; thời gian trứng 2 – 4 ngày, sâu non 5-10 ngày, nhộng 6-18 ngày. Bọ trưởng thành là loài bướm nhỏ dài 2mm, màu trắng bạc, ban ngày dậu dưới mặt lá, xẩm tối mới hoạt động. Đẻ trứng hai bên gân chính trên lá non mới xòe. Trứng nhỏ, trong suốt. Sâu mới nở đục lớp biểu bì lá hút dịch bên trong tạo thành đường ngoằn ngoèo làm lá cuốn lại không còn khả năng quang hợp, qua các đường ngoằn ngoèo đó bệnh loét xâm nhập vào, làm lá rụng. Sâu đẫy sức gấp mép lá lại làm kén để hóa nhộng. Sâu phá hoại quanh năm trong vườn ươm, nặng nhất là tháng 7, 8, 9. Dùng Sherpa 25 EC 0,1% hoặc Decis 2,5 EC (0,3 – 0,4 lít/ha).

Bọ phấn (Bemisia sp)

Chi côn trùng, họ Bọ phấn (Aleyrodidae). Bọ trưởng thành dài 0,75 – 1,4mm, cánh trước và cánh sau bằng nhau. Toàn thân và cánh phủ lớp phấn trắng. Sâu non màu vàng nhạt. Nhộng giả hình bầu dục. Trông hình bầu dục có cuống, lúc dầu trong suốt sau chuyển màu vàng sáp ong rồi nâu xám. Bọ trưởng thành sống ở dưới mặt lá, khi bị động nhẹ chúng bay vút lên. Hoạt động giao phối mạnh vào lúc 5 – 6 giờ sáng và 4 – 5 giờ chiều. Một vòng đời con cái đẻ 49 – 85 trứng, đẻ thành ổ 4 – 6 quả hoặc đẻ rải rác trong mô lá.

Bọ phấn phá hại các loại rau như dưa chuột, đậu đỗ, cà chua.

Phòng trừ bằng cách vệ sinh đồng ruộng, không trồng các cây bọ phấn ưa thích gần nhau. Dùng Sherpa 20EC, karate 2,5 EC theo chỉ dẫn của cán bộ bảo vệ thực vật.

Sâu đục quả (Maruca testulatis)

Loài sâu họ Pyralidae. Sâu non gây hại nhiều cây trong thuộc họ Đậu đỗ. Gặp ở khắp Việt Nam và thế giới.

Bướm dài 10 – 13mm, cánh rộng 25 – 26mm. Thân màu vàng sáng như đồng có ánh kim. Mắt kép màu nâu gụ. Giữa cánh trước có những khoảng trong suốt không phủ vảy. Trứng hình bầu dục màu trắng. Sâu non đẫy sức dài 17mm, thân trắng ngà, lưng và bụng có nhiều đốm nâu. Nhộng dài 12 – 15mm, mới nở màu xanh nhạt sau chuyển dần thành màu vàng.

Ban ngày bướm thường đậu dưới lá cây, bụi cỏ, bụng hướng lên trên, cánh dang thẳng 2 bên. Hoạt động ban đêm, đẻ trứng vào vỏ quả hay mặt sau lá, để 2 quả chồng lên nhau. Sâu non nở ra đục một lỗ rất nhỏ ở ngoài vỏ để chui vào trong ăn thịt quả. Sâu thường nhả tơ quấn hoa lại làm tổ.

Sâu xuất hiện quanh năm trên đồng ruộng từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau ở các loại rau; tháng 3 – 9 sổng ở hạt đậu xanh, đậu đen; ăn hại rau mồng tơi từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau.

Muốn phòng trừ sâu đục quả phải luân canh các loại cây khác họ; thường xuyên thăm ruộng rau để sớm phát hiện và xử lý kịp thời và dùng thuốc hợp lý: trừ sâu non mới nở trước khi chúng chui vào quả.

Sâu cuốn lá đậu (Hedylepta in dicata)

Loài sâu gây hại các loại rau họ Đậu, thuộc họ Pyralidae. Bướm nhỏ, dài 7 – 11mm, toàn thân màu vàng pha nâu. Râu hình sợi chỉ mắt kép màu đen. Hai bên đỉnh đầu có chùm lông. Cánh trước hình tam giác, mép trước cánh màu vàng nâu, phía sau màu nâu sáng. Trên cánh có 3 đường vân đen chạy từ bờ trước ra bờ sau.

Sâu non lúc nhỏ màu hơi vàng, đẫy sức màu xanh trong, dài 15 – 17mm, đầu màu xanh vàng hay nâu nhạt. Đốt ngực giữa có 4 lông lồi. Bướm hoạt động về đêm đẻ trứng ở mặt sau lá. Mỗi bướm cái đẻ trung bình 50 – 100 trứng. Thòi gian trứng 3 – 7 ngày; sâu non 12-18 ngày (mùa đông đến 38 ngày); nhộng 6 – 9 ngày (mùa đông 23 ngày); bướm 3 – 5 ngày. Vòng đời 25 – 37 ngày (mùa đông 74 ngày).

Sâu phát sinh liên tục quanh năm, mỗi năm đến 10-11 lứa. Mật độ sâu cao vào tháng 3 – 5 và 9 – 10.

Sâu non ăn chất xanh làm cây chậm lớn, ra hoa kém, quả nhỏ, quả rụng sớm và thưa.

Phòng trừ bằng biện pháp tổng hợp (IPM): lợi dụng thiên địch; điều tra dự báo sự phát sinh và phát triển của sâu; phun thuốc hợp lý. Xem thêm Tại sao gọi phòng trừ tổng hợp?

Những bệnh thường gặp ở rau và cách phòng trừ

Ở Việt Nam thường gặp một số bệnh ở rau như sau:

Bệnh xoắn lá

Bệnh do virut gây ra. Làm cây bị lùn, lá biến dạng, khảm xanh vàng. Bệnh thường lan truyền do rệp, bọ phấn. Cây bị bệnh phải nhổ bỏ và phun thuốc diệt rệp, bọ phấn. Nồng độ thuốc, liều lượng thuốc dùng phải theo đúng hướng dẫn và kết thúc phun thuốc ở mỗi lứa là 7 ngày.

Bệnh xoắn lá gặp ở cà chua sớm, cà chua vụ xuân – hè; rau

Bệnh sương mai (còn gọi: mốc sương)

Bệnh do các loài nấm mốc gây ra. Trên mặt lá xuất hiện các đốm nấm màu nâu xám, thường gặp trong những ngày có sương mù. Gặp ở cà chua, khoai tây, cần tây.

Phòng trừ bệnh sương mai bàng cách tỉa cành, nhánh, lá gốc. Khi xuất hiện bệnh thì phun Boocđô 1%; có thể dùng một số loại thuốc khác như Zineb 80 WP, Alitte 80 WP (theo liều lượng và thời gian cách ly ghi trên bao bì của từng loại thuốc).

Bệnh héo lá xanh vi khuẩn

Bệnh do vi khuẩn (Pseudomonas) gây ra, làm cây đột nhiên héo rũ, lá vẫn còn màu xanh. Nếu cắt ngang thân cây cho vào cốc nước trong, một lúc sau thấy dịch trắng chảy ra. Bệnh xuất hiện khi độ ẩm cao, ấm. Gặp ở cà chua sớm.

Khi thấy bệnh xuất hiện hạn chế tưới nước, nhổ bỏ cây bệnh, dùng vôi bột rắc quanh gốc cây.

Để phòng bệnh héo xanh có thể trồng cà chua trên gốc ghép cà tím để tăng khả năng chịu nóng, giảm bệnh héo cho cà chua sớm. Cần luân canh cà với lúa nước.

Bệnh đốm nâu

Bệnh do nấm gây ra. Vết bệnh lúc đầu màu vàng sau chuyển sang nâu rồi thành đen. Bệnh lan dần ra toàn lá, làm lá khô và chết. Bệnh bắt đầu từ lá ở thấp sau lan dần lên lá trên. Bệnh gặp ở cà chua khi cà ra hoa bắt đầu kết quả và nặng nhất là lúc quả chín. Cây bị bệnh nặng có thể chết. Bệnh phát triển khi độ ẩm 90 – 95%, nhiệt độ 22 – 25°c. Nguồn lây bệnh chính là tàn dư cây vụ trước.

Phòng trừ bằng cách dọn sạch các tàn dư cây vụ trước. Luân canh vối các cây khác họ. Tỉa cành, bấm ngọn. Phun thuốc Boocđô, Zineb, Bentat, Rovtal theo chỉ dẫn.

Bệnh thán thư

Bệnh của ớt ngọt, đậu đỗ do nấm Gleosporium và Colktotrichum gây ra. Biểu hiện trên lá xuất hiện vết đốm tròn xung quanh có viền nâu đỏ. Vết đốm có thể nứt ra, lõm sâu trên thân, trên quả

Phòng trừ bằng cách: vệ sinh nơi trồng, đốt tàn dư cây vụ trước; luân canh cây trồng; trồng các giống kháng bệnh; xủ lý hạt giống bằng thuốc trừ bệnh trước khi gieo trồng. Phun thuốc nhóm cacbanat như Bavistin, Zineb 80 WP… Topsin 50 WP.

Thán thư đậu đỗ

Bệnh do nấm Colletotriumlin dernuthiamen gây ra trên các cây họ Đậu đồ nhất là trên đậu côve (đậu vàng). Các bộ phận của cây nằm trên mặt đất đều có thể bị bệnh. Bệnh xuất hiện ở giai đoạn cây sinh trưởng nhưng nặng nhất là lúc tạo quả. Ở cây non, trên các lá sò có chấm đồng tâm màu nâu đỏ, ỏ thân cây có vết nâu dài, lõm, nếu thời tiết ẩm các vệt bệnh có ổ nấm hồng, ở cây lớn, các vết nâu hoặc đen trên lá. ở quả có chấm tròn màu nâu hay nâu đỏ, xung quanh có đường viền vàng hoặc đỏ. Các sợi nấm nằm trong hạt giống và tàn dư cây.

Phòng trừ thán thư đậu đỗ bằng cách lấy hạt giống ở những ruộng không bị bệnh; phân loại và chọn giống kỹ trước khi gieo; luân canh đậu đỗ với lúa, cây có củ; tăng cường bón phân lân và kali. Dùng Boocđô 1% hoặc Zinel 80% với tỷ lệ 1/200 phun khi cày có bệnh, xử lý hạt giống bằng TMTD 85 HTN với lượng 3 – 4 kg/tấn hạt giống.

Thối rễ đậu đỗ

Bệnh do nhiều loài nấm gây ra. Trên cây con, bệnh làm thối rễ, cành và lá sò. Mầm cây chuyển thành màu nâu và chết trước khi vươn lên mặt đất. Trên lá sò có vết loét sâu, màu nâu, có khi chiếm đến nửa lá. Khi cây lớn, bệnh làm cho rễ đen và chết. Bệnh xâm nhập ở gốc thân làm cây ngừng sinh trưởng và héo. Nguồn gây bệnh từ đất và hạt giống mang mầm bệnh.

Phòng trừ bằng cách trồng hạt giống không bệnh; phá váng kịp thời sau các trận mưa; tăng cường bón phân lân và phân kali; gieo trồng các giống kháng bệnh; xử lý hạt bằng TMTD 85 BTN với lượng 3 – 4kg/tấn hạt.

Bệnh gỉ sắt

Nhóm bệnh do nấm gỉ sắt gây ra. Trên lá và các bộ phận xanh của thán cây có các đếm vàng trắng rải rác khắp mặt lá. Bệnh xuất hiện ở các lá dưới trước là nấm của bào tử xuân. Sau đó chuyển sang màu vàng nâu chứa bào tử hè. Cuối giai đoạn sinh trưởng của cây ổ nấm chuyển sang nâu đậm chứa các bào tử đông.

Bệnh hay gặp ở đậu cô ve, đậu bắp.

Phòng trừ bằng cách tiêu hủy tàn dư cây vụ trước, luân canh cây đậu đỗ với cây trồng khác; thường xuyên làm cỏ. Phun thuốc trừ bệnh bằng Boocđô 1% hoặc keo lưu huỳnh 1% (600 – 800 I/ha); Anvil 5 SC; Rovral 50 WP; Score 250 EC theo chỉ dẫn trên bao bì và thời gian cách ly ít nhất 10 ngày.

Thối trắng cải

Bệnh do nấm Scolerotinia sclerotiokrum gây hại cho cây họ Cải. Bệnh lan nhanh trong thời gian bảo quản. Biểu hiện: lá ngoài nhày nhụa và thối. Trên các lá bị bệnh có nhiều sợi nấm màu trắng, xốp như bông và các hạch màu đen. Nấm phát triển ở nhiệt độ 17 – 25°C.

Nguồn gốc lây bệnh ban đầu là đất và các cây chủ mang bệnh. Các hạch nấm có thể lan truyền cùng hạt giống.

Phòng trừ thối cải trắng bằng cách luân canh cây họ Cải với cây họ Đậu và họ Lúa; chỉ lấy hạt ỏ những cây khỏe mạnh. Không nên trồng dày, xới xáo kịp thời nhất là sau khi tưới; bón đầy đủ phân, tăng cường bón kali. Thu dọn tàn dư cây sau khi thu hoạch. Cày sâu phơi ải đất.

Xử lý hạt giống bằng TMTD 85 TN trước khi gieo với liều 4- 5kg/tấn hạt giống.

Thối trắng hành tỏi

Bệnh do nấm Scoỉerotium cepivorum gây ra. Biểu hiện: ở đáy củ hành, tỏi có lớp xốp, mịn, dày màu trắng, trên đó có các hạt màu đen. Làm thối củ khi thu hoạch chậm hoặc trong thời gian bảo quản.

Phòng trừ bằng cách giữ đất luôn tơi xốp, tăng cường bón phân kali, tro bếp khi hành tỏi ra củ; vệ sinh đồng ruộng trước, trong và sau khi thu hoạch.

Thối khô củ khoai tây

Bệnh do nấm Fusarium gây ra, thường gặp trên củ khoai tây đang cất giữ. Trên củ xuất hiện các vết nâu hay vết màu tro hơi lõm. Thịt củ lúc mới chớm bệnh màu nâu khô. Kích thước vết bệnh tăng dần, da nhăn nheo, mặt ngoài củ có đám nấm hơi nổi lên, màu xám trắng có khi màu vàng hoặc hồng. Nếu cất giữ khoai tây nơi khô ráo, củ dần dần khô, trọng lượng giảm, da nhăn nheo. Nấm lan truyền bằng các sợi nấm, ở nhiệt độ 17 – 25°c với ẩm độ 70%.

Củ khoai bị bệnh không mọc được, nếu có mọc cũng tạo ra các cây yếu ớt.

Phòng trừ bằng cách chọn củ không mang mầm bệnh; phơi thật khô vỏ củ trước khi cất; tăng cường bón phân và bón đủ phân.

Bệnh phấn trắng

Bệnh do nấm Erysiphe conumunis gây hại ở tất cả các loài đậu đỗ, dưa chuột. Biểu hiện: trên mặt lá tạo thành các đám nấm màu trắng như rắc bột phấn. Các đám này có thể xuất hiện cả trên cành và quả. Về sau đám nấm dày lên có màu xám bẩn do hình thành các quả nấm. Bệnh nặng, các bộ phận bị nặng thô cứng và chết. Quả thể nấm dính vào tàn dư cây, tiếp tục lây cho cây vụ sau.

Phòng trừ bằng cách cày sâu, vùi tàn dư cây xuống đất. Trồng các giống chín sớm. Phun thuốc trừ bệnh bằng dung dịch Zineb 1%, Bayleton 25EC, thời gian cách ly 10 – 14 ngày.

Bệnh thối xốp

Bệnh do Erwinia carotovova gây thối rễ củ cà rốt. Bệnh gây hại trong mọi giai đoạn, gây xốp rễ, có mùi khó chịu, có khi gây thôi sâu vào phần trong củ.

Phòng trừ bằng cách: dùng giống chống chịu bệnh, phơi đất trước khi trồng và tránh gây hại rễ khi vun xới.

Bệnh héo lá, thối cuống

Bệnh gây ra do Fusarium oxysporum và Scỉerotium rolfsii gây hại đến 90%  ở các loại cà, cà chua, khoai tây và các loại rau khác như bắp cải, su lơ… bầu làm cho lá bị héo, thối cuống quả. Bệnh lây truyền qua hạt, tàn dư cây vụ trưóc, đất, nước tưới, nước mưa.

Muốn phòng trừ phải dọn sạch cỏ, tàn dư cây vụ trước. Áp dụng các biện pháp tổng hợp: chọn cây khỏe từ ruộng sạch bệnh; luân canh cây khác họ, chế độ tưới hợp lý, tránh cho nước vào rãnh.

Bệnh chết yểu cây con

Là bệnh rất phổ biến và chung cho các loại rau, bệnh làm ảnh hưỏng đến độ nảy mầm của hạt và cây con trước khi nhổ ra trồng.

Bệnh thưòng có 2 giai đoạn: cây con bị chết trong các vườn ươm và cây đổ gục bất kỳ lúc nào. Bệnh xuất hiện khi độ ẩm đất cao, nhiệt độ không khí 24 – 28°c. Bệnh do các loại nấm gây ra như: Pythium spp; Phytophthora spp; Rhi zoctonm… Bệnh lây truyền qua đất, tàn dư cây trồng, nước tưới, nước mưa.,,

Phòng trừ bằng cách: tránh trồng cây quá dày và che bóng; trước khi trồng phải phơi ải đất, đốt tàn dư cây; bón phân hợp ]ý; tẩy mầm bệnh bằng formaldehyt pha loãng 50 lần vói nước; xử lý đất vối thuốc diệt nấm Vitavac 200…