Nuôi vịt chăn thả ở nước ta có nhiều thuận lợi

Hình đại diện Nuôi vịt chăn thả ở nước ta có nhiều thuận lợi
Hình đại diện Nuôi vịt chăn thả ở nước ta có nhiều thuận lợi

Nước ta là một nước nông nghiệp có hơn 6 triệu ha diện tích trồng lúa nước. Một năm có hai vụ lúa thì cũng có hai vụ dựng vịt đẻ lấy trứng và hai vụ nuôi vịt thịt tận dụng thóc rơi. Nước ta lại có trên 3000km đường biển, có hàng vạn hecta diện tích đầm, hồ, ao, sông rạch. Cho nên đã từ lâu, nghề chăn nuôi vịt rất được ưa thích từ Bắc đến Nam vì nuôi vịt chăn thả rất phù hợp với điều kiện ngoại cảnh, điều kiện sinh thái ở nước ta và có hiệu quả kinh tế cao.

Nhà khoa học lớn của nước ta, ông Lê Quí Đôn, đã nói đến từ lâu rằng nghề nuôi vịt kết hợp với trồng lúa có khả năng phát triển ở bất cứ địa phương nào, từ vùng đồng bằng, ven biển, trung du đến miền núi cao.

Với kinh nghiệm chăn nuôi theo lối cổ truyền của nhân dân kết hợp với khoa học kỹ thuật tiên tiến về giống, chăm sóc nuôi dưỡng, thú y… Nghề nuôi vịt ở nước ta có khả năng và nhiều thuận lợi phát triển ở cả ba khu vực chăn nuôi: chăn nuôi gia đình, chăn nuôi tập thể và chăn nuôi quốc doanh.

Nếu so sánh với chăn nuôi gà thì nghề chăn nuôi vịt ỏ nước ta có những thuận lợi hơn như sau:

Bầy vịt con

Bầy vịt con

Vịt có sức chịu đựng bệnh tật giỏi hơn gà

Khi thời tiết hay đổi, hoặc vào các mùa dịch bệnh, trong một gia đình chăn nuôi cả gà cả vịt thì thường là gà mắc bệnh trước, sau đó mới đến vịt (ở thể nhẹ hơn).

Ví dụ: Đối với bệnh đậu (trái) vịt thường mắc ở thể nhẹ hơn, chỉ có mụn ở màng chân dễ chữa và mau lành hơn ở gà. Gà thường có mụn ở cả mắt, mũi, tỷ lệ thường tử vong cao, bệnh khó chữa.

Vịt thường mắc hai bệnh truyền nhiễm gây thiệt hại nhiều nhất là dịch tả vịt, sau đó đến tụ huyết trùng, nhưng nếu được tiêm phòng dịch định kỳ thì cũng khắc phục được.

Đối với gà ở các lứa tuổi có rất nhiều bệnh gây tác hại lớn. Ở giai đoạn gà con bệnh cầu trùng, bạch lụy… có thể giết gà hàng loạt, những bệnh truyền nhiễm như Newcatsle, tụ huyết trùng, Micô, Marôc… đều gây tai hại đối với gà.

Vịt thường đẻ tốt hơn gà

Nếu so với các giống gà trong nước thì không cố giống gà nào đẻ tốt bằng vịt. Nếu so với gà công nghiệp (đẻ khoảng 220 trứng trên năm, nếu nuôi ở nước ta) thì chúng cũng không hơn vịt về các chỉ tiêu sinh sản như:

Năng suất đẻ của gà công nghiệp cao hơn nhưng trọng lượng trứng vịt to hơn cho nên tổng khối lượng của trứng vịt so với trứng gà vẫn cao hơn.

Đối với vịt: 75g x 180 trứng = 13.500g

Đốì với gà : 60g x 220 trứng = 13.200g

Vịt thưởng đẻ sớm và đẻ nhiều hơn gà, tuổi đẻ sớm nhất của vịt cỏ, vịt Kaki – Campbell là 135 – 140 ngày tuổi, trong khi đó đối với gà tuổi đẻ sớm nhất cũng phải 145 – 150 ngày, tỷ lệ đẻ của vịt rất tập trung và rất cao, nếu được nuôi dưỡng chăm sóc tốt ở những vùng ven biển ven sông có nhiều thức ăn đạm vịt rất có thể đạt tỷ lệ đẻ là 95% và đẻ liên tiếp 100 ngày liền, có những ngày đẻ tới 100%. Thời gian thay lông của vịt cũng nhanh và nói chung là đều. Vịt cỏ (vịt tàu hay vịt đàn) thời gian thay lông khoảng 30 – 45 ngày (từ khi đập vịt, tức là không cho vịt đẻ, đến khi dựng vịt, tức là cho vịt ăn đủ khẩu phần để đẻ trở lại). Đối với gà thời gian thay lông tối thiểu phải 55- 65 ngày. Khi vịt thay lông chúng cũng nghỉ đẻ nhưng đến lúc đẻ trở lại tỷ lệ đẻ tăng lên rất nhanh (chỉ trong 10 ngày đầu vịt đẻ trở lại tỷ lệ là 50 – 60%).

Vịt trên ao

Vịt trên ao

Thức ăn của vịt đơn giản, dễ kiếm, rẽ tiền và ít tốn công chế biến hơn thức ăn của gà

Với hình thức nuôi vịt theo lối chăn thả (ở đồng mộng, bãi sông, bãi biển, mương lạch, hồ đầm…) chúng có thể tự kiếm đầy đủ các loại thức ăn bột, đường, đạm, khoáng (như lúa rụng, tôm, cua, ốc, hến, don dắt rong tảo và các loại thức ăn thủy sinh khác…) để có thể lớn lên và sinh sản tốt.

Từ lâu vịt đã được gắn với cây lúa ở nước ta một cách tự nhiên, vì ngoài con vịt ra không có con vật nào có thể tìm mò ăn thóc rụng sau mỗi vụ gặt. Điều đó xem ra đơn giản nhưng đem lại lợi ích kinh tế to lớn. Tính ra cứ mỗi sào bắc bộ (360cm2) thường có 3 – 5kg thóc rụng. Như vậy nếu đem nhân số thóc rụng đó với tổng diện tích trồng lúa của cả miền nam nói riêng và toàn quốc nói chung thì chúng ta sẽ có khối lượng thức ăn dùng nuôi vịt rất lớn đảm bảo nâng cao số lượng vịt lên gấp vài chục lần so với bây giờ.

Ngoài ra, vịt lại là loài ăn tạp dễ nuôi không kén ăn nên thức ăn của heo, gà còn dư thừa có thể cho vịt ăn vẫn tốt. Điều quan trọng nữa là vịt ăn được nhiều rau cỏ, các loại bèo… kể cả thân cây chuối băm nhỏ, nên giải quyết thức ăn cho vịt dễ hơn gà, nhất là trong những năm kinh tế gặp khớ khăn (như khi mất mùa, lương thực của người thiếu thốn).

Trên đây là những thuận lợi chính, ngoài ra tùy hoàn cảnh các địa phương phát ưiển nuôi vịt còn có những thuận lợi sau :

+ Những vùng ẩm ướt (có nhiều đầm lầy, ao, hồ, sông lạch khó nuôi các gia xúc khác như trâu, bò, dê, lợn, gà…) thì lại là nơi thích hợp cho nghề nuôi vịt, vì chính ở những nơi này vịt và chỉ có vịt mới tận dụng được thức ăn thiên nhiên.

+ Chuồng vịt thường xây dựng đơn giản, rẻ tiền, dề làm bằng nguyên liệu địa phương. Ở các tỉnh miền duyên hải trung bộ và nhất là các tỉnh miền tây nam bộ, các nhà chăn nuôi vịt mái đẻ, cũng như vịt thịt thường chăn thả trong vụ gặt trên đồng ruộng không cần đến chuồng trại.

Đối với vịt con sau giai đoạn gột (vịt nuôi được 20 ngày tuổi) là có thể đưa chúng đi chăn thả hết cánh đồng này đến cánh đồng khác/ có khi đi từ tỉnh này sang tỉnh khác với những đàn từ 5.000 đến 15.000 con. Yêu cầu chỗ ở đối với chúng chỉ cần ban ngày đi chăn thả trên đồng, tối đến quây dàng (cái quây đan thưa bằng tre cao độ 30 – 40cm) không cho vịt chui qua. Nhiều người nuôi vịt thường buổi tối nhốt vịt trên một bãi cỏ bằng phẳng, sáng đi chăn cứ như vậy cho tới khi vịt mọc đủ lông (chéo cánh 75 – 90 ngày tuổi) được bán thịt.

Đối với vịt mái đẻ cũng vậy, đến mùa đi chăn thả cũng chỉ cần quây dàng cho vịt ban đêm trên bãi cỏ, sáng nhặt trứng rồi lại tiếp tục đi chăn. Như vậy vịt có thể ngủ dưới đất. Nếu có làm chuồng thì chỉ là những cái lều tạm không tốn kém gì. Ngay cả các trại chăn nuôi vịt công nghiệp, chuồng vịt cũng đơn giản rẻ tiền.

Vịt có thể nuôi tập trung trên ao hồ nuôi cá. Nhờ phân vịt làm thức ăn cho các loài thủy sinh, cá ăn các loài thủy sinh đó có thể tăng sản lượng lên 25%.

Vịt có tập tính sống theo đàn, dù cho đàn vịt đông từ 1000 – 2000 con khi đi chăn xa chúng không bị lạc đàn. Một đàn vịt 2000 con chỉ cần một người đi chăn cũng bảo đảm an toàn.

Các sản phẩm của vịt đều có giá trị sử dụng cao.

Thịt vịt quay, vịt lạp, vịt sấy, vịt luộc, vịt tần… đều là những món ăn có nhiều protit và được mọi người ưa chuộng kể cả trong nước cũng như ngoài nước.

Trứng vịt cũng là món hàng xuất khẩu có giá trị kể cả trứng tươi cũng nhứ trứng muối. Lòng đỏ trứng vịt chế biến thành bột là món ăn bổ dưỡng cho người già, người ốm, bột lòng trắng trứng là một dược liệu.

Chân vịt nấu cao là một vị thuốc chữa bệnh thấp khớp còn lụa mề vịt là thuốc chữa đau dạ đày (theo đông y).

Phân vịt là loại phân hữu cơ có phẩm chất cao, dùng để bón rau, trồng gừng, trồng mía và gieo mạ đều rất tốt,