Những giống lan lạ-P2

Hình đại diện Những giống lan lạ-P2
Hình đại diện Những giống lan lạ-P2

Gongora

Gongora có xuất xứ từ châu Mỹ. Tất cả những cây này đều mọc ở dạng phong lan trong những vùng nhiệt đới hoặc ôn đới. Hầu hết chúng dều là những loài ưa lạnh, mọc trong rừng mưa nhiệt đới, trên những thân cây hoặc cành cây to. Chúng nảy một giả hành, hình dáng từ tròn cho đến oval, có chóp nhọn, với hai hoặc ba lá ngọn. Tất cả các phát hoa đều mọc ra từ gốc cây. Phát hoa dài, mảnh, và dẻo dai với từ bốn đến 15 hoa (một số loài còn nhiều hơn), treo thòng xuống. Hoa mang hình dáng kỳ lạ và trông giống côn trùng bay, lại thêm hương thơm rất nồng nàn. Màu sắc hoa thay đổi từ vàng, nâu hung, cho đến đỏ có đốm.

Giống lan này thu hút các nhà trồng chuyên nghiệp, những người đang tìm kiếm những loài lan lạ, nhưng chúng cũng phát triển tốt ở hầu hết các nhà kính nghiệp dư. Do cách trổ hoa thòng xuống nên tốt nhất là trồng chúng trong những giỏ hoặc chậu treo rồi treo lên mái giàn, hoặc bó lan vào những khúc vỏ cây rồi treo lên tường.

Họ hàng gần nhất với nó là Stanhopea, nhưng có rất ít ghi nhận về việc lai giữa hai giống này. Tuy nhiên chúng vẫn có thể lai với nhau để tạo ra những giống lai lạ thường.

Tất cả những loài này đều có thể phát triển thành bụi rất to. Tùy theo sở thích của người trồng mà họ có thể để nguyên bụi như vậy hoặc tách chúng ra.

Huntleya & pescatorea

Những cây lan này được tìm thấy ở vùng Nam Mỹ, trong rừng mưa, nơi khí hậu hầu như luôn ẩm ướt, chúng mọc dưới dạng phong lan và chỉ thỉnh thoảng mới có dạng địa lan. Qua quá trình tiến hóa, những cây lan này không còn cần đến giả hành nữa mà thay bằng bộ lá to. Năm sáu lá trở lên trên mỗi bộ lá đươc phân cách nhau bằng một đoạn thân rễ ngắn và cứng, và cùng lúc chồi mới đến độ trưởng thành thì cây cũng trổ hoa.

Vì những cây này may mắn mọc ở những nơi không có mùa khô kéo dài nên chúng có khả năng giữ lá suốt năm, và vì vậy không cần dữ trữ thức ăn dưới dạng giả hành. Chúng phát triển liên tục và ra hoa vào bất cứ thời điểm nào trong năm. Hoa trổ từng bông một từ gốc cây, và thường là nhiều hoa nở một lúc.

Hai giống này có rất nhiều loài, nổi tiếng nhất là Huntleya meleagris; hoa của nó to, dẹt, có hình ngôi sao, đầu cánh hoa có màu cam nâu, và giữa hoa nhạt dần, kết hợp với phần cuối sáng bóng như đánh vecni, làm cho nó trở thành một loài hoa lộng lẫy. Còn có nhiều giống họ hàng khác cũng sẽ phát triến tốt trong điều kiện tương tự. Một vài đơn cử về những cây trong hai giống này là Pescatorea lawrenceana có cánh tràng màu trắng, đầu cánh màu thạch anh tím; Bollea coelestis, với hoa to màu xanh điện, một màu hiếm thấy ớ hoa lan; và Cochleanthes discolor với cánh môi màu tím, hình kèn trumpet và cánh tràng màu hồng kem.

Tất cả những loài lan này đều thích độ cao ở những ngọn núi Nam Mỹ, chủ yếu là ở dãy Andes; nơi đây chúng phát triển mạnh trong độ ẩm của rừng mưa hầu như quanh năm. Nên bạn nhất định không bao giờ được để cho cây bị khô quá lâu và tránh để cho cây bị ánh nắng trực tiếp chiếu vào, vì những chiếc lá mềm của nó rất dễ bị cháy.

Một điều khá đáng tiếc là nhóm lan xinh đẹp này không được ưa chuộng cho lắm và ít được chú ý. Với nhiều màu sắc và hình dạng như vậy từ những cây họ hàng mà chúng lại hiếm khi được lai giống thì quả là một cơ hội bị bỏ lỡ. Lai tạo từ những giống này chắc chắn sẽ cho ra những bỏng hoa vô cùng thú vị.

Ludisia

Ludisia là một giống nhỏ các loài địa lan, thỉnh thoảng có cả phong lan. Hầu hết những cây này đến từ Đông Nam Á, thường được gọi là lan nữ trang. Cái tên này có thể được dùng chung cho tất cả những cây có lá đẹp, nhưng rõ ràng rằng Ludisia là giống đẹp nhất.

Cây có thân rễ bò, ngắn. Dọc theo thân rễ, lá mọc ra với khoảng cách đều, và kết thúc với một đám lá hình hoa thị. Từ giữa đám lá đó mọc ra phát hoa. Sau khi phát hoa này ra hoa, cây sẽ đâm chồi mới từ dưới gốc và quá trình phát triển lại bắt đầu. Lá có màu xanh thẫm, mịn như nhung, với những đường gân màu đỏ hoặc cam. Hoa văn trên lá của từng loài, thậm chí là của từng cây, khác nhau rất nhiều.

Phát hoa đứng thẳng, nổi bật giữa đám lá xung quanh. Hoa nhỏ, màu trắng, tim hoa màu vàng. Loài được ưa thích nhất là L. discolor.

Dùng hỗn hợp vỏ cây nhuyễn, than bùn hoặc mùn lá với một ít đá mạt thô hoặc cát thô để giữ cho chất trồng được thoáng. Trồng cây lỏng lẻo vào chậu cạn cho thích hợp với thân rễ bò của cây. Che chắn cho cây khỏi bị ánh nắng trực tiếp, nhưng phải cung cấp đầy đủ ánh sáng. Cây này vốni mọc dưới mặt đất trong rừng, vì vậy đừng để nó bị khô hoàn toàn. Đừng phun nước cứng hoặc thuốc trừ sâu lên lá, vì cả hai loại này sẽ đọng lại và làm lá bị hư.

Giống lan này được trồng làm cây trong nhà để chưng trên tủ kiếng hoặc bên bậu cửa sổ, và có thể được chiêm ngưỡng suốt năm. Trước kia, chung được trồng dưới những nắp thủy tinh để chưng và cũng để tăng độ ẩm chung quanh cây. Nhiều loài trước đây được trồng nhưng nay lại khó tìm, và chỉ xuất hiện trong bộ sưu tập của các nhà chơi lan chuyên nghiệp. Có rất nhiều loài địa lan khác họ hàng gần với giống này cũng có hoa văn đẹp, và chúng rất đáng để bạn sưu tầm.

Lycaste & anguloa

Giống Lycaste luôn được các nhà trồng lan nghiệp dư ưa chuộng. Chúng dễ trồng và ra hoa nhiều với những bông hoa to để trang trí. Chúng được tìm thấy chủ yếu ở dãy Andes thuộc Nam Mỹ, với vô số loài đặc trưng ở tận bắc Guatemala và Mexico. Những cây lan này mọc dưới dạng địa lan hoặc phong lan, tùy theo loài. Tất cả chúng đều có giả hành từ tròn cho đến oval, nằm gần nhau, và thường ở đỉnh giả hành cổ hai lá lớn. Trên những cây to, lá có thể nằm hơi lộn xộn và không bao giờ tồn tại trên cây quá lâu. Đây là giống lan thay lá hằng năm, rụng lá trong mùa nghỉ, vì vậy lá mềm và dễ bị đốm hoặc biến dạng. Người trồng cổ thể sẽ cắt lá đi khi chúng trông quá xấu xí.

Những cây lan này thường ra hoa trong suốt mùa nghỉ và những loài lai tốt nhất sẽ trổ hoa dồi dào quanh gốc giả hành mới. Mỗi bông hoa mọc ra trên một cọng hoa đơn, và từ một giả hành có thể trổ khoảng 20 hoa. Những bông hoa to và tuyệt đẹp này thường rất thơm. Trong mùa hoa, tốt nhất là đặt cây nơi khô ráo để hoa được tưới lâu hơn và không bị đốm.

Chồi mới sẽ nhanh chóng xuất hiện sau khi mùa hoa kết thúc, hoặc có khi cùng lúc với mùa hoa. Trong mùa tăng trưởng, hãy tưới nước và bón phân thật nhiều cho cây đế thúc đẩy giả hành càng căng mập càng tốt trước khi chồi mới của mùa tăng trưởng đó hoàn thành. Khi mùa nghỉ bắt đầu, hãy tưới nước ít hơn, song không có một nguyên tắc bất di bất dịch nào ở đây cả, vì không phải tất cả chúng đều phát triển trong mùa hè và tất cả đều nghỉ ngơi vào mùa đông. Chỉ cần nhớ’ là nêu chúng phát triển thì tưới nước, còn chúng nghỉ ngơi thì không tưới.

Với những chiếc lá mềm mại, những cây lan này rất dễ bị rệp vừng tấn công. Chúng không chịu được bất kỳ loại thuốc trừ sâu nào, vì lá sẽ bị cháy, vì vậy cách tốt nhất là dùng nước và bọt biển để khống chế côn trùng.

Nổi tiếng nhất trong các loài là L. skiunnerii, có khi còn gọi là L. virginaris, một loài có xuất xứ từ Guatemala với những bông hoa khổng lồ màu hồng. Loài này hiện nay hiếm khi thấy trồng, nhưng trước đây có thời gian nó được ưa chuộng đến nỗi nhiều bộ sưu tập chỉ toàn loài này, với các màu sắc khác nhau từ trắng hoàn toàn và hồng nhẹ cho đến màu hồng thẫm nhất. Các loài khác bao gồm L. aromatica và L. cruenta, có cánh đài màu vàng và cánh tràng màu xanh non. Hương thơm của chúng ngào ngạt khắp cả nhà kính.

Một số loài địa lan mọc ở Nam MỸ và chúng phải mọc cạnh tranh với nhiều loài thực vật khác trên mặt đất. Chính vì điều này mà tán lá của chúng phát triển dài ra, và phát hoa cũng dài không kém. Một trong những loài này là locusta, có hoa màu xanh thẫm.

Họ hàng gần với Lycaste là giống Anguloa. Giống này hầu như chỉ có ở Andes, Ecuador, Colombia, và Peru. Bộ phận sinh dưỡng và cách thức mọc của chúng cũng giống như lan Lycaste, nhưng chúng có phần khỏe hơn. Chúng phát triển thành những cây to, và với tán lá lớn, chúng chiếm nhiều không gian trong nhà kính. Những bông hoa hình chén nở ra trên một cọng hoa đơn và không bao giờ nở hết cỡ. Chính vì vậy mà chúng được gọi là lan tulíp. Nổi tiếng nhất là loài A. clowesii, với những bông hoa vàng rực và thơm nức. Còn vô số loài khác nữa với hoa màu trắng và hồng.

Từ thời gian đầu, hai giống này đã được lai tạo rộng rãi, tạo nên các loài lai trong nội bộ từng giống các loài lai liên giống, tức là các thành viên của hai nhóm khác nhau được lai chéo với nhau. Kết quả cho ra các loài lan rất nổi bật, không ngừng được săn lùng. Những cây lan này rất thích hợp để trồng trong nhà; mùa nghỉ bạn nên đặt chúng trên bậu cửa sổ của căn phòng mát mé, đến mùa tăng trưởng thì cung cấp cho chúng hơi ấm và ánh sáng. Những chiếc lá mềm mại của chúng phải được bảo vệ khỏi ánh nắng trực tiếp chiếu xuyên qua cửa kính dể tránh bị cháy.

Lan Masdevallia

Lan Masdevallia

Masdevallia

Masdevallia là một giống rất lớn, bao gồm nhiều loài, với hình thức hoa rất đa dạng. Tất cả chúng đều là cây bản địa của các nước châu Mỹ, đại đa số được tìm thấy trên những dãy núi ven biển ở Brazil hoặc dãy Andes, và xa tận phía bắc là rừng mưa nhiệt đới ở Mexico.

Nhìn chung chúng là những cây nhỏ, mọc thành bụi, không có giả hành, và chồi mới của mỗi mùa mang một lá. Nhiều chồi được nảy ra cùng lúc và kết quả là tạo thành một bụi lá to màu xanh nhạt hoặc thẫm. Vì không có giả hành để nuôi sống cây trong mùa khô hạn, nên lá cây trở nên rất dày và trữ được rất nhiều nước. Điều này giúp bảo tồn cây trong một thời gian ngắn không có mưa. Trong tự nhiên, những cây này thường mọc trên những thân cây phủ rêu; ở đây, hệ rễ mảnh mai của chúng có thể bám vào và tìm được đủ độ ẩm và dinh dưỡng để nuôi sống cây. Chúng cũng phát triển tốt nếu được trồng trên đất hoặc đá có phủ rêu, nơi mà độ thoát nước phù hợp với chúng và mức độ cạnh tranh dôidi với các thực vật khác không nhiều.

Mỗi hoa mọc trên một phát hoa đơn, và cây có thể trổ chỉ một hoặc rất nhiều hoa. Cánh dài là phần to nhất và nổi bật nhất của hoa, còn cánh tràng và cánh môi thì bé tẹo, khó thấy. Cạnh của cánh đài dính lại với nhau, làm cho hoa có hình tam giác hoặc trông giống con diều. Màu sắc hoa rất khác nhau, từ trắng hoàn toàn, vàng, và nâu, có đốm và có hoa văn, cho đến màu cam rực rỡ, tím, và hoa cà.

Giống này có đến hàng trăm loài, hầu hết đều chẳng cần nhiều không gian, chỉ cần một chậu hoa nhỏ bằng tách cà phê là đủ; một nhà kính nhỏ có thể trồng được rất rất nhiều cây. Vì chúng là những cây ở vùng cao nên thích điều kiện ẩm và mát quanh năm. Bạn phải đảm bảo không để chúng bị nóng quá trong những ngày hè nóng bức, cũng như không bị quá lạnh trong những đêm đông lạnh lẽo. Trong thiên nhiên, chúng không phải chịu những mùa khô kéo dài nên không cần mùa nghỉ.

Người ta đã thực hiện lai tạo rộng rãi nội trong giống này, và còn có thể thực hiện nhiều hơn nữa. Với nhiều loài để lựa chọn, cộng với khả năng thụ phấn cao, cơ hội để lai tạo là rất lớn. Khi cây con hình thành, chúng sẽ nhanh chóng phát triển, và chỉ một thời gian ngắn kể từ khi gieo hạt, chúng sẽ ra hoa.

Có họ hàng với Masdevallia là một nhóm lớn các giống khác, trong đó có Dracula, với những bông hoa rất to so với cây. Những bông hoa to, hình tam giác, đầu hoa nhọn, thon, và dài, trổ ra lần lượt từ cùng một phát hoa, và mặc dù hoa mau tàn, cấu trúc cánh môi vẫn tạo cho chúng một nét hấp dẫn lạ kỳ.

Drydella – một giống lan vừa, ít loài cũng là một họ hàng gần. Hoa của nó không có phát hoa mà chỉ nép quanh gốc cây, khiến nó có cái tên là “gà lôi trong bụi cỏ”.

Một nhóm còn lớn hơn cả Masdevalli là Pleumthallis. Hầu hết những cây này có hoa rất nhỏ, không đáng chú ý, nhưng chúng vẫn được những người chơi lan nghiệp dư ưa thích vì họ muốn tìm cái mới lạ. Những giống này mọc chung với nhau rất tốt trong nhà kính lạnh, được che mát tốt.

Miltonia

Giống này dã bị phân loại lại rất nhiều, và nhiều cây trước đây từng thuộc danh mục này nay đã bị chuyển sang giống khác. Tuy nhiên, nhiều cây đã được phân loại lại vẫn thường được xem là miltonia.

Hầu hết những cây miltonia thực sự đều mọc ở Brazil. Chúng có những giả hành dài, hơi dẹt, và nằm cách nhau trên thân rễ. Chúng leo rất giỏi, và vì vậy người ta hay trồng chúng leo trên thân của nhiều loại cây. Lá của chúng màu xanh nhạt, cho thây chúng thích bóng râm. Tuy nhiên, khi đưa vào trồng, ánh sáng tốt lại dường như là một nhu cầu quan trọng của chúng.

Phát hoa mọc ra khi chồi mới bắt đầu phát triển mạnh, trổ hai hoặc ba hoa. Cánh môi to và rộng là phần nổi bật nhất của hoa.

Nổi tiếng nhất trong các loài là M. spectabilis, có cánh tràng màu hồng nhạt và cánh môi hồng sậm hơn, lộng lẫy với những dường vân. Trong thứ moreliana, cánh tràng có màu hồng rất đậm, cánh môi có hoa văn còn đậm hơn. M. flavescens trổ phát hoa dài với tám đến mười hoa màu vàng nhạt.

Hầu hết lan miltonia mọc trong những rừng mưa nhiệt đới ở Brazil, với độ cao khác nhau tùy theo loài. Trong trồng trọt, giống lan này không khó trồng lắm trong nhà kính vừa hoặc ấm. Chúng thường không thích bị gò bó trong chậu mà sẽ nhanh chóng tìm đường lan ra ngoài vành chậu; ở đây chúng sẽ mọc ra vô số rễ trên không. Những loài này rất thích hợp trồng trong giỏ treo hoặc bó vào khúc vỏ cây. Chúng không có mùa nghỉ, hoặc mùa nghỉ rất ngắn, vì vậv ngay khi những chồi mới này vừa hoàn tất thì những chồi mới khác mọc ra, kết quả là cây mọc thành bụi to.

Lan miltonia, nhâ’t là M. spectabiỉis, đã được sử dụng để lai giống, không những nội trong giống này mà còn lai với giống khác, như Odontoglossum, tạo ra những bông hoa giống lan odontoglossum nhưng lại chịu được nhiệt và có thể phát triển trong khí hậu ấm hơn.

Stanhopea

Stanhopea nằm trong số những giống lan có hoa to nhất và có hương rất thơm. Tất cả chúng đều là cây bản địa của vùng châu Mỹ nhiệt đới, được tìm thấy ở cả phía bắc và nam eo Panama. Chúng cũng xuất hiện trên một số đảo ở Tây Ấn Độ dưới dạng phong lan. Những cây này có giả hành hình nón, xanh đậm, trên đỉnh có một lá cứng. Đặc điểm lạ thường nhất là phát hoa mọc ra từ gốc câv. Thay vì mọc hướng ra ngoài hoặc hướng vào trong cây, phát hoa lại đâm xuvên thẳng xuống và trổ hoa thòng bên dưới cây. Vì vậy khi trồng trong vườn, chúng thích hợp được trồng trong giỏ treo.

Khác với hầu hết các loài lan, phát hoa của chúng mọc ra rất nhanh, và giả hành của chúng khi dã phát triển hoàn toàn sẽ to hơn bất kỳ loài lan nào khác. Nó căng mập ra hết cỡ trong vài phút. Những bông hoa khổng lồ này, với hình dáng, màu sắc và hoa văn tuyệt đẹp chỉ tồn tại có một tuần, đủ lâu để chúng được thụ phấn trong tự nhiên.

Ngay cả nội trong một loài dễ nhận biết của Stanhopea, màu sắc của hoa cũng khác nhau rất nhiều, cả kích thước và hình dáng hoa cũng vậy. Bên cạnh sự đa dạng khác thường này trong nội một loài, rất nhiều trường hợp lai tạo tự nhiên cũng đã diễn ra.

Loài được đưa vào trồng nhiều nhất là S. tigrina, với hoa văn màu nâu sẫm trên cánh hoa màu kem nhạt, và S. oculata, có cánh tràng màu vàng đốm hạt tiêu, và ở chân cánh môi có một đốm mắt đậm.

Ngoài việc lai giống tự nhiên còn có rất nhiều cơ hội cho những ai muốn đánh bạo lai giống cho những cây này. Chúng thụ phấn rất dễ và sinh nhiều hạt giống.

Lan Thunia

Lan Thunia

Thunia

Đây là một nhóm lan nhỏ, chủ yếu đến từ Himalava, nơi mà chúng có mùa nghỉ và mùa tăng trưởng rất rõ ràng. Chúng có thể mọc trên mặt đất, trên đá, hoặc trên cây. Nếu là địa lan thì chúng có mùa tăng trưởng ngắn và rất nhanh. Chồi mới bắt đầu xuất hiện vào mùa mưa, hoặc nếu đưa vào trồng thì là vào đầu mùa xuân. Chồi mới còn nhỏ rất dễ bị úng thối cho đến khi chúng cao từ 5 – 8cm, tức là khi chúng đã hình thành hệ rễ và phát triển tốt. Từ lúc này, hãv tưới nhiều nước và phân cho chúng để đảm bảo chúng đạt được mức trưởng thành.

Cây sinh ra những giả hành dài, trông như cây mía, dài đến 1m, với những chiếc lá mềm và mỏng như giấy mọc dọc khắp chiều dài giả hành. Ngay khi giả hành trưởng thành, chúng sẽ trổ một chùm hoa to ở trên đầu. Trong hầu hết các trường hợp, cánh tràng có màu trắng ngần, còn cánh môi to, màu đỏ rực, và có diềm.

Khi đã hết mùa hoa, cây sẽ ngừng phát triển, và trong vòng một đôi tháng, lá sẽ bắt đầu vàng đi, khoác lên màu sắc mùa thu rực rỡ ngay trước khi nó rụng. Chẳng cần tưới nước hay bón phân gì cho đến khi cây tăng trưởng trở lại vào mùa xuân. Cho đến lúc này, giá hành của mùa trước đã nhăn nheo và chết đi, truyền lại mọi năng lượng cho chồi mới. Một cây không bao giờ một lúc có hơn một giả hành. Hãy che mát thật nhiều cho cây trong mùa tăng trưởng để tránh những chiếc lá mềm mại bị cháy.

Loài nổi bật nhất là T. marshalliana, với hoa có cánh môi to nhất và rực rỡ nhất. Chúng có nhiều loài lai, mà đẹp nhất là T. Gattonense, có cánh tràng màu hồng, cánh môi màu hồng đậm có hoa văn màu vàng. Chúng rất thích hợp trồng chung với lan rụng lá Calanthe, vì cách mọc và nhu cầu của chúng tương tự nhau.

Zygopetalum

Những cây này mọc khắp vùng nhiệt đới châu Mỹ, chủ yếu là trên những vùng núi cao hơn của dãy Andes và dãy núi ven biển Atlantic. Nhóm này tuy nhỏ – tổng cộng chỉ có khoảng 15 loài – nhưng rất hấp dẫn, thường mọc ở dạng địa Lan, thỉnh thoảng có phong lan, và chỉ có một loài mọc leo.

Đây là những cây lan xanh quanh năm, nảy ra một loạt giả hành dọc theo thân rễ, có lá ngọn và lá gốc. Phát hoa trổ ra cùng lúc chồi mới nảy lên. Đặc điểm nổi bật của hoa là cánh mỏi to và rất rực rỡ. Màu nền là màu trắng hoặc kem, có sọc và hoa văn màu tím đậm. Ở một số loài, cánh môi chỉ có một màu mà thôi. Cánh tràng có màu xanh điểm hoa văn nâu, và hầu như luôn rất thơm.

Được ưa chuộng nhất trong các loài là Z. intermediuni, thường có cái tên thương mại là Z. mackayii. Đây là loài mọc khỏe nhất và trổ ra những chùm hoa dài quyến rũ. Z. maxillare có thân rễ dài, mánh, và được trồng tốt nhất là ở dạng thân leo, nên hãy uốn cho thân leo lên cột gỗ, còn gốc cây thì trồng trong chậu. Cánh môi màu xanh điện rất đậm, tạo nên sự tương phẩn tuyệt vời với những loài khác có cánh môi màu tím. Z. crinitum là loại lan vừa, cánh tràng màu xanh ô liu có chấm nâu sôcôla, kết hợp với cánh môi màu trắng có những dường và châm màu tía, to khoảng 8 cm bề ngang. Hoa dặc biệt rất thơm.

Giữa các loài này, người ta đã thực hiện lai tạo rất nhiều để tăng cường màu sắc hoa. Ngoài ra còn có việc lai giữa các giống gần, như Colax và Promemea.