Những giống lan lạ-P1

Hình đại diện Những giống lan lạ-P1
Hình đại diện Những giống lan lạ-P1

Nếu bạn đã có một số loài lan và muốn làm phong phú thêm cho bộ sưu tập của mình, thì những cây dưới đây sẽ là những đôi tượng thú vị cho bạn. Nhiều loại được ưa chuộng bởi những nhà sưu tầm thích tìm cái khác lạ, và đôi khi chúng hơi khó trồng.

Bifrenaria

Những cây này hầu hết đều có xuất xứ từ Brazil. Bifrenaria là một giống nhỏ, không da dạng. Chúng chủ yếu là phong lan, nhưng cũng có thể mọc như địa lan ở những nơi điều kiện thoát nước thích hợp với chúng nhất. Mỗi cây bao gồm một loạt những củ giả hành hình nón, cứng, và xanh đậm. Trên đầu mỗi giả hành mọc ra một lá to và rất cứng. Những chiếc lá khỏe này mọc thẳng lên từ giả hành và tươi lâu nhiều năm rồi mới rụng. Phát hoa mọc ra từ gốc giả hành mới nhất và có thể trổ một hoặc hai bông to và rất đẹp. Cánh đài và cánh tràng có kích thước đồng đều, còn cánh môi thì hình tròn. Màu sắc của chúng có thể khác nhau tùy theo loài, từ trắng xanh cho đến hồng sậm, và cánh môi nhỏ rộng thường có màu hoa cà đậm hoặc đỏ. Tất cả các loài của giống này đều rất thơm.

Loài được yêu thích nhất là B. harrisoniae. Nó có hương thơm dễ chịu và sẽ mọc thành bụi to trong giỏ hoặc chậu treo. Các loài khác như B. tyrianihina có cánh tràng đậm hơn và thơm nhẹ hơn.

Nếu được trồng trong khu vực ấm áp của nhà kính, hầu hết các cây lan bifrenaria đều có kỳ nghỉ và kỳ tăng trưởng rõ ràng. Trong lúc cây đang phát triển mạnh và ra rễ, bạn nên thoải mái tưới nước và bón phân cho chúng. Nếu chúng có vẻ ít hoặc không hoạt động, hãy giữ chúng khô ráo để tránh bị nhiễm bệnh hoặc thối rễ. Đặc điểm của loại lan này là: chồi mới và phát hoa có thể mọc ra cùng lúc, điều này cho biết đã đến lúc tưới nước lại cho cây.

Brassia

Giống Brassia có họ hàng gần với Odontoglossum và Oncidium, và tuy có thể lai dễ dàng với những giống này, nhưng tự thân nó đã là một giống rất nổi bật.

Brassia phân bố khắp Nam Mỹ, trên nhiều đảo ở Tây Ấn Độ, và ra tận phía bắc Mexico, thường mọc trên cây thành những bụi to. Giả hành xanh đậm hình quả mận có hai lá ngọn, và được phân cách với nhau bởi một đoạn thân rễ ngắn. Phát hoa thường trổ ra nhanh, sau khi chồi mới của mùa này hoàn tất, và sẽ phát triển chậm trong nhiều tháng rồi mới ra nụ. Tùy theo loài mà phát hoa có thể dài từ 50 đến 100 cm. Mỗi phát hoa mang 10 hoặc 12 hoa rất to. Mỗi bông hoa có hai cánh tràng trông như hai sợi ruybăng, vươn ra một cách chắc chắn từ giữa hoa, làm cho nó trông giống như con nhện, vì vậy nó thường được gọi là lan nhện. Hầu hết những hoa này chỉ có một màu xanh hoặc vàng, một số loài còn có viền cam; đôi khi ở giữa hoa có đốm. Cánh môi ngắn và rộng hơn cánh tràng, cũng có hoa văn tương tự. Nhiều hoa thuộc giống này rất thơm, khiến nó thêm hấp dẫn. Tuy nhiên ở các loài lai, mùi thơm này mất dần đi.

Mặc dù một số loài mọc tốt nhất trong điều kiện mát mẻ, nhưng nhiều loài lại chịu được nhiệt độ cao.

Loài chủ yếu là B.venucosa, đến từ Mexico và Guatemala, một loài phổ biến nhất với những bông hoa xanh trên phát hoa dài. Những nhà chơi hoa nghiệp dư có thể dễ dàng trồng chúng, và chúng ra hoa rất mạnh trong điều kiện tốt nhất . Các loài lai được yêu thích gồm B. Rex, có thể ra hoa trong bất kỳ mùa nào, với những bông hoa to rực rỡ. Nhiều giống lai đã xuất hiện khi nó được đem lai với các giống khác, như Oncidium, Odontoglossum, và Miltonia. Rất nhiều giống lai là kết quả của việc lai chéo ba giống với nhau, mà nổi tiếng nhất là Maclelaneara và Beallara.

Bulbophyllum và cirrhopetalum

Một số cơ quan hữu trách đặt hai giống trên chung với nhau và gọi chung là Bulbophyllum, còn một số khác thì lại đang tìm cách phân chia chúng thành các nhóm nhỏ hơn. Nhưng dù được phân loại như thế nào, chúng cũng đại diện cho một lượng lan rất lớn, phân bố rộng khắp vùng nhiệt đới.

Chúng là những loài có củ, thường sinh những giả hành tròn xanh đậm, có một lá ở trên đầu. Phát hoa mọc ra từ gốc cây, và do có rất nhiều loài khác nhau, nên hình dạng hoa cũng rất khác nhau. Nhiều loài có hoa rất nhỏ, chỉ được các nhà thực vật học quan tâm, còn các loài khác lại cho hoa rất to và thú vị.

Trong tự nhiên và trong nuôi trồng, chúng mọc thành những bụi to. Khi ít được chăm sóc cũng như ít bị quây rầy, chúng sẽ phát triển, tồn tại trong nhiều năm, và hằng năm đều trổ hoa đẹp.

Một số loài, như c. umbellatum, sẽ cho một chùm hoa to với những bông hoa màu hồng, còn các loài khác, như c. gutulatum, lại cho những bông hoa xanh xinh xắn với một vòng chấm hạt tiêu. Nhóm Bulbophylum có xuất xứ từ châu Phi, và các thành viên của nó trổ phát hoa cao, dẹt và thoáng, nhưng đôi khi cũng xoắn lại. Hoa nhỏ và không đáng kể, trông giống như những con sâu đang bò trên phát hoa. Loài đáng lưu ý nhất là B. purpureorachis, hoa có hình cái mác.

Một số loài to nhất của giống này xuất xứ từ New Guinea. B.fletcherianum có giả hành to như cái trứng ngỗng và những cái lá khổng lồ dài đến 1 m. Nó nặng đến nỗi cây phải thòng xuống trên thân cây chủ. Từ gốc cây mọc ra một dãy những bông hoa to, dày, có màu tím và đỏ, và đặc biệt là chúng có một mùi hương kinh khủng, thu hút những con ruồi bâu xác chết hoặc ong bắp cày đến để thụ phấn cho chúng. Những cây bulbophullum khác đến từ vùng này, như B. graveolan, có hoa màu vàng kim, cũng rất nặng mùi. Những cây này thường được trồng trong các vườn nghiên cứu thực vật vì sự hiếu kỳ.

Một đặc trưng hấp dẫn của nhóm lan này là: chỉ cần một cơn gió hay một cái chạm rất nhẹ, cánh môi sẽ đong đưa rất tự do. Loài B. lobbii có cánh môi có thể xoay ra sau từ phía dưới hoa, rồi lại bật về vị trí cũ. B. barbigerum có hoa nhỏ giống như con muỗi. Một sự lay động rất nhẹ cũng sẽ làm cả phát hoa bay phất phới. Cánh môi của nó gồm vô số những sợi lông rất mảnh có thể chuyển động trong gió nhẹ. B. medusae (lan sứa) thì lại trổ rất nhiều hoa ở cuối phát hoa dài, tạo thành bó. Do cánh tràng của nó mỏng, giống như bông, treo thòng xuống, nên nó mới mang cái tên này.

Xét về lai tạo, người ta rất ít lai tạo loài mới trong giống này. Loài lai nổi tiếng nhất là c. Elizabeth Ann, với những cánh tràng dài, màu hồng, có hoa văn, làm cho nó trở thành loài lan hấp dẫn nhất.

Calanthe

Calanthe phân bố khắp miền nam Trung Quốc, ngang qua Nhật và phần lớn Ấn Độ, đi xuống Malaysia và nhiều đảo ở Đông Nam Á. Nó là loại địa lan, mọc trên các loại đất đá khác nhau, phát triển mạnh ở bất cứ nơi nào đó điều kiện thích hợp nhất.

Đại khái thì giống này có thể được tách thành hai nhóm, nhóm xanh quanh năm và nhóm rụng lá theo mùa. Trước tiên, lan Calanthe xanh quanh năm có thân rễ bò trên hoặc ngay dưới mặt đất. Dọc theo thân rễ có những giả hành rất nhỏ, mọc ra hai, ba, hoặc bốn lá. Chồi mới mọc ra từ thân rễ và nhanh chóng trưởng thành thành lá mới; thường thì cây cũng đồng thời trổ hoa. Phát hoa đứng thẳng, vượt khỏi lá – điển hình của bất kỳ loài địa lan nào. Chùm hoa có rất nhiều màu, từ vàng nâu, vàng tươi, cho đến trắng.

Vào năm 1856, người ta đã cho ra đời loài lai đầu tiên có tên là Calanthe Dominii, được lai từ hai loài Calanthe xanh quanh năm là c. masuca và c.furcata. Ở thời nữ hoàng Victoria/ người ta trồng Calanthe với số lượng rất lớn. Loài này ưa lạnh và không cần hoặc ít cần sưởi. Một khay to những cây này có thể trang điểm thêm cho khu vườn rộng lớn của họ. Tiếc là ngày nay chúng không còn thịnh nữa, ngoài trừ ở miền viễn đông, nhất là Nhật; ở đây loài lan này vẫn luôn được ưa chuộng và vẫn còn được trồng cho đến nay. Tham quan một buổi triển lãm lan Nhật Bản, bạn sẽ thấy người ta trưng bày rất nhiều các loài lai hiện đại, tất cả đều được trồng rất đẹp.

Các loài Calanthe rụng lá theo mùa cũng có xuất xứ từ những miền tương tự, nhưng phân bố không rộng. Bộ phận sinh dưỡng của cây rất khác, sinh ra những giả hành to mập, có màu trắng bạc. Chúng mang hai hoặc ba lá ngọn khổng lồ nhưng rất mỏng, vì chúng vốn không tồn tại lâu.

Mùa tăng trưởng của chúng bắt đầu từ mùa xuân; thời điểm này, chúng trổ ra mầm mới, và cần được sang chậu. Hãy tưới nước và phân thật dồi dào cho chúng trong suốt mùa hè, và bạn sẽ thấy rằng chẳng có loài nào phát triển nhanh như Calanthe cả. Các giả hành nở to ra trong một thời gian kỷ lục, và khi đã hoàn tất, một hoặc nhiều phát hoa sẽ mọc ra từ gốc. Vào thời điểm này, lá sẽ nhanh chóng bị hư và rụng xuống. Khi ấy, hãy giảm tưới nước rồi dần ngưng hẳn. Giả hành cũ mà từ đó phát sinh mầm mới sẽ hư đi, nhưng đôi khi có thể được dùng để nhân giống. Phát hoa sẽ tiếp tục mọc dài ra trong suốt mùa thu và mùa đông, sử dụng nguồn năng lượng dự trữ trong giả hành. Phát hoa có thể dài đến 1m, hoa có nhiều màu, từ màu trắng, kem với cánh môi đỏ, rồi các sắc hồng khác nhau, cho đến màu đỏ đậm nhất. Hoa tươi suốt nhiều tháng. Đây là yếu tố khiến nó được yêu thích trong thời nữ hoàng Victoria; người ta mua nó về chưng trong nhà. Khi cây rụng lá và phần lớn rễ thì bạn không cần phải tưới nửa. Ngay khi mùa hoa kết thúc, phát hoa sẽ rụng đi và cây bắt đầu sẵn sàng đâm chồi mới vào mùa xuân.

Một trăm năm trước, khi lan Calanthe đang thịnh hành, chúng rất đa chủng Loại. Việc lai tạo được mở rộng và bộ sưu tập của giống này lúc bấy giờ rất phong phú. Sau đó, những cây lan này không còn hợp thời nữa, nhưng một số ít cây vẫn còn được lưu lại trong những bộ sưu tập riêng cho đến những nãm 1980, khi mà niềm đam mê lan lại trỗi dậy, đưa đến việc lai tạo chuyên sâu hơn. Kết quả là ngày nay chúng ta có những bông hoa với hình dạng và kích thước đa dạng hơn bao giờ hết, và những ai có không gian sẽ thấy rằng chúng rất đáng để trồng.

Coelogyne

Đây là một giống lớn các loài phong lan ở vùng nhiệt đới của châu Á, từ tận phía bắc Trung Quốc, xuyên qua toàn bộ Ấn Độ, Sri Lanka, Miến Điện, Malaysia, và ra tận phía nam New Guinea.

Hầu hết chúng đều nở hoa to, hấp dẫn, và dù cho không có hoa chúng vẫn là những cây đẹp. Chúng có giả hành xanh, to mập. Mỗi giả hành mang hai lá ngọn, và các giả hành được nối với nhau bằng một đoạn thân rễ bò, cứng. Chúng bám trên những chạc cây hoặc những cành cây to; ở đó chúng sẽ giữ những giả hành cũ và tán lá trong nhiều năm. Nhiều loài có tập tính trổ hoa từ giữa giả hành tương lai, và hầu hết những cây trồng đều nở hoa vào mùa xuân. Chồi mới xuất hiện vào cuối đông và nhanh chóng phát triển. Sau khi ra hoa, chồi mới này sẽ tiếp tục phát triển và hình thành giả hành mới, hoàn tất sự phát triển vào mùa thu. Sau đó tùy theo loài mà cây sẽ có một kỳ nghỉ ngắn hoặc dài trong mùa đông.

Trong lúc tăng trưởng, cây cần một lượng nước và phân bón dồi dào để đảm bảo chồi mới sinh ra giả hành mập, khỏe vào cuối mùa hè. Trước đây người ta từng nghĩ rằng nên giữ cho thân cây khô ráo suốt mùa đông, nhưng như thế sẽ làm cho giả hành bị nhăn quá mức, và đến mùa tăng trưởng sau bạn sẽ phải rất tốn công để làm cho nó mập lên lại. Hãy giữ cho nó đủ ẩm trong mùa đông thì nó sẽ mập tròn quanh năm.

Những cây có xuất xứ từ Himalaya bị lấn át bởi các loài c. cristata, c. ochracea, c. corymbosa, và c. flaccida. Tất cả những loài này đều nở những bông hoa trắng, sáng lung linh rất đẹp, với cánh môi màu vàng kim hoặc màu cam. Những bụi hoa khổng lồ này nổi bật trong nơi sống tự nhiên của chúng. Trong vườn, những cây này sẽ trổ bông vào cuối đông và mùa xuân, tỏa hương thơm ngát khắp nhà kính.

Đến từ những miền xa xôi tận phía nam, những loài như c. massangeana và c. dayana trổ những phát hoa dài và thòng xuống, nên chúng không thích hợp để đặt trên giá thấp. Tốt nhất là trồng trong giỏ hoặc chậu, treo lơ lửng gần mái nhà kính. Những phát hoa dài đến 60 cm này mang đến hàng tá bông hoa màu trắng kem rất đẹp, với phần giữa màu nâu.

Một trong những loài được săn lùng nhất là c. pandurata, với những cánh tràng màu lục nhạt và cánh môi rất tối, gần như màu đen; chính vì vậy mà người ta thường gọi nó là lan đen.

Giống Coelogyne chỉ có một vài loài lai, chủ yếu là vì chúng rất khó lai giống. Những loài lai được là những loài rất nổi tiếng. Coelogyne Green Dragon ‘Burnham’, một loài được lai từ c. pandurata và c. massangeana, có phát hoa rất dài và thòng xuống, mang những tính chất tốt nhất của cả hai loài bố mẹ. Coelogyne Memoria William Micholitz, với những bông hoa trắng lung linh, là loài lai giữa c. mooreana và c. lawrenceana.

Coelogyne có rất ít họ hàng gần, vì vậy chúng ta không ngạc nhiên khi thấy những giống lai giữa nó với các giống khác. Tuy màu sắc của nó không đa dạng, chủ yếu là trắng, nâu, vàng, và xanh, nhưng chúng ta hãy mong chờ vào những nỗ lực lai tạo. Cơ hội tạo nên những bông hoa với hình dạng mới và cải thiện loài rất đáng để chúng ta cố gắng.

Lan Encyclia

Lan Encyclia

Encyclia

Encyclia phân bố rộng rãi khắp vùng châu Mỹ nhiệt đới, cả phía bắc lẫn phía nam, và các vùng đảo ở Tây Ấn Độ. Chúng là loại lan có củ, sinh ra những giả hành dài và thon hoặc ngắn và mập, với hai, ba, hoặc bốn lá ngọn. Phát hoa luôn mọc ra từ giả hành, thường là từ giả hành của mùa trước. Hoa trổ trên phát hoa thẳng đứng và có rất nhiều màu sắc hấp dẫn. Những cây này thường là phong lan, và tùy theo loài mà chúng có thể mọc thành những bụi nhó hoặc những cây lớn. Chúng còn có thể mọc trên mặt đất hoặc trên đá, nơi điều kiện môi trường thích hợp với chúng.

Đây là một giống lớn; trong nhiều năm qua, nó đã được tách nhóm và phân loại lại nhiều lần. Đầu tiên nó nằm trong giống Epidendrum. Gần đây nó có một sự thay đổi lớn trong việc phân loại: nhiều loài của nó được đưa sang giống Prosthechea. Tuy nhiên, phần đông mọi người vẫn xem chúng là Encyclia. Chúng đã được lai giống nhiều năm, và để lai giống, chúng được ghi nhận là thuộc giống Epidendrum khi lai với các giống khác. Các loài lai trong nội bộ giống này rất ít và thưa thớt, nhưng khi lai với các cây khác có họ hàng, chẳng hạn Cattleỵa, chúng tạo ra những loài lai có màu sắc tuyệt vời và những cây nhỏ lẫn vừa.

Một trong những loài nổi tiếng nhất của Encyclia là E. cochleata, một trong những loài lan đầu tiên được đưa vào trồng ở phương Tây, vào đầu năm 1763. Cây lan hấp dẫn này có giả hành tương đối lớn, và khi đưa vào trồng, nó có thể giữ hoa được suốt cả năm. Hình dạng của cánh môi khiến cho nó có cái tên là lan nửa vỏ sò, nhưng nó còn được gọi là lan bạch tuộc, vì nó có những cái “xúc tu” dài lủng lẳng. Loài này phát triển chậm, nhưng bù lại nó có thể thích nghi có mức độ với nhiều điều kiện khác nhau. Nhìn chung, hầu hết những loài này cần điều kiện mát mẻ, nhưng một số loài vẫn phát triển tươi tốt trong nhà với nhiệt độ vừa hoặc nóng.

Vì lan Encyclia phân bố rộng nên điều kiện để trồng chúng cũng khác nhau. Những loài ưa lạnh không có mùa tăng trưởng và mùa nghỉ rõ ràng như một số loài khác. Nguyên tắc tốt nhất là chiều theo kiểu phát triển của cây, và nếu nó muốn phát triển trong mùa đông thì bạn cứ tưới nước cho nó , cho dù cây bên cạnh nó thích được nghỉ ngơi và ít cần nước hơn cho đến khi đâm rễ và chồi mới.

Epidendrum

Những cây lan này mọc khắp các vùng nhiệt đới châu Mỹ và Tây Ân Độ; chúng mọc ở dạng phong lan lẫn địa lan. Hầu hết các cây epidendrum có thân dài, mảnh, giống cây mía, và chiều dài thân có thể thay đổi từ 5cm đến 3m. Hoa trổ ra từ trên ngọn thân và một số loài hầu như nở hoa liên tục – cây trổ hoa từng đợt từ hai đến ba năm mà không nghỉ ngơi.

Màu sắc của hoa rất đa dạng, từ xanh cho đến đỏ đậm, cam, và vàng. Vì những đặc tính này mà chúng trở thành những cây vườn rất được ưa chuộng ở bất kỳ nơi nào trong miền nhiệt đới, và trong nhiều quốc gia, người ta thấy chúng mọc hoang, tách xa khỏi những khu vườn ban đầu của chúng. Trong điều kiện khí hậu lạnh hơn, chúng là những cây lý tưởng để trồng trong nhà kính hoặc trong nhà.

Cái tên Epidendrum là cái tên rất cổ, đầu tiên được đặt cho tất cả các loài lan mọc trên cây. Vì vậy mà bất cứ khi nào một loài mới được phát hiện, nó tự động được gọi là Epidendrum – kết quả là nhiều loài lan ngày nay chúng ta trồng thì trước đây đều được gọi là Epidendrum. Với sự cải thiện trong việc phân lớp, ngày càng có nhiều loài tách khỏi giống này.

Những cây Epidendrum thực sự đã được lai giống rộng rãi, tạo nên những bông hoa to hơn, rực rỡ hơn cho những vườn hoa nhiệt đới hoặc những nhà kính ôn hòa. Những cây epidendrum dạng sậy là những cây đáng chú ý, có sức chịu đựng cao và có khả năng thích nghi được với nhiều dạng khí hậu khác nhau. Chúng sẽ phát triển mạnh trong bất kỳ điều kiện nào không có sương giá và trổ hoa rất đẹp làm thỏa mãn người trồng.

Epidendrum radican trổ những chùm hoa to rất ấn tượng, với màu cam đỏ rực rỡ trên những phát hoa dài 30 cm. Hoa E. ciliare có cánh đài và cánh tràng rộng bẹt, màu xanh non, còn cánh môi thì màu trắng thanh nhã. Kích thước hoa thay đổi rất lớn, từ khoảng 8 cho đến 15 cm bề ngang.