Một số giống dê quan trọng

Hình đại diện Một số giống dê quan trọng
Hình đại diện Một số giống dê quan trọng

Theo ước lượng, hiện nay có khoảng 300 giống dê được người nuôi dê sử dụng, trong đó đa số ở trong vùng nhiệt đới và á nhiệt đới.

Phân loại giống dê

 

+ Nguồn gốc, dạng và chiều dài của tai: Sự phân loại này thể hiện chiều hướng tiến hóa và sự liên hệ đến môi trường sống của chúng. Các nhà động vật học có khuynh hướng theo chỉ tiêu này.

+ Sản phẩm: Các sản phẩm chính của dê là thịt, sữa và len.

+ Tầm vóc: Căn cứ trên thể trọng và chiều cao vai. Về tầm vóc dê được phân thành ba nhóm:

Tầm vóc lớn: Cao vai lớn hơn 65 cm, cân nặng 20 – 63 kg, thường là giống kiêm đụng.

Tẩm trung bình: Cao vai 51 – 65 cm, cân nặng 19 – 37 kg, sản xuất sữa hay thịt.

Tầm vóc nhỏ (dê lùn): Cao vai nhỏ hơn 50 cm, cân nặng 18 – 25 kg, chủ yếu sản xuất thịt, ở châu Phi.

Một số giống dê quan trọng

Toggenburg

Nguồn gốc ở Thụy Sĩ, bộ lông có màu nâu từ đậm đến nhạt với hai vệt lông trắng ở mặt, viền lông trắng quanh tai, bốn chân và đùi trắng. Lông cỏ thể ngắn hay dài; có thể có sừng hay không có sừng. Tai nhỏ hướng ra ngoài và lên phía trên. Dê cái tốt có thể sản xuất 4,5 – 6,8 kg sữa/ngày lúc cao điểm, trung bình 860 kg sữa có 33 kg bơ trong một chu kỳ 10 tháng và một số dê kỷ lục dạt 1.800 kg sữa/chu kỳ. Trọng lượng trưởng thành con đực là 73 kg hay hơn, cao vai 84 cm và dê cái là 52 – 68 kg, cao vai 69 – 79 cm. Giống dê Toggenburg có tính hiền lành, thân thiện nên được nuôi phổ biến ở nhiều nước.

Dê Toggenburg

Dê Toggenburg

Saanen

Nguồn gốc ở vùng núi của Thụy Sĩ, lông màu trắng hay kem nhạt, nhưng sắc lông trắng được ưa chuộng hơn. Bộ lông có thể ngắn hay dài. Tai thẳng đứng hướng về phía sau, có thể có hay không có sừng. Đây là giống dê có tầm vóc lớn nhất của Thụy Sĩ có thể sản xuất đến 5,7-8 kg sữa/ngày vào lúc cao điểm. Trọng lượng trưởng thành con đực là 84 kg, cao vai 89 cm và dê cái là 62 kg, cao vai 76 cm. Dê Saanen có tầm vóc lớn, sản lượng sữa cao, đặc tính cho sữa tốt, hiền lành, trầm lặng, dễ dạy nên dược nuôi phổ biến để sản xuất sữa. Giống dê này đã được nhập vào nước ta

Dê Sannen

Dê Sannen

Alpine

Nguồn gốc chưa rõ, có thể từ Pháp và Thụy Sĩ ở vùng núi Alpine. Sắc lông có nhiều màu với vệt lông màu đậm hơn ở sống lưng, mặt và phần thân sau, đôi khi toàn trắng trông giống như Saanen. Dê Alpine có ngoại hình đẹp với cổ thanh và dài, đầu lạnh lợi, lông ngắn, có hay không có sừng. Giông này có tầm vóc lớn có sản lượng sữa bình quân 1.020 kg với 38 kg bơ/chu kỳ 10 tháng. Trọng lượng trưỏng thành con đực là 77 kg, cao vai 86 – 102 cm và dê cái là 57 kg, cao vai 74 – 92 cm. Giống dê này đã được nhập vào và phát triển tốt ở nước ta.

Nubian

Phát triển ở Anh bởi sự lai tạo chủ yếu từ dê cái Thụy Sĩ với dê đực vùng Nubia ở Ai Cập và Ethiopia. Một số tài liệu cho rằng giống Nubian được lai tạo từ dê cái bản xứ của Anh với dê đực nhập từ Ãn Độ và từ Ai Cập nên thường được gọi là Anglo – Nubian. Giống này có mũi dài và cong; tai dài và sụp; mắt to và đậm; có hay không có sừng. Sắc lông có nhiều màu và thường có đốm, lông ngắn và thô. Sản lượng sữa bình quần 716 kg với 32 kg bơ/chu kỳ 10 tháng. Một số dê kỷ lục đạt đến 1.925 kg sữa/chu kỳ. Trọng lượng trưởng thành con đực là 80 kg, cao vai 90 cm; dê cái là 60 kg, cao vai 76 cm. Giống này có tầm vóc lớn và thích nghi với nhiều vùng khí hậu nhưng thích hợp hơn ở vùng có khí hậu ấm.

Dê nubian

Dê nubian

Barbari

Giống này được nuôi phổ biến ở Uttar Pradesh và Haryana ở Ấn Độ và Tây Pakistan. Dê có lông ngắn, màu trắng với các các đốm lông đỏ tách biệt; tai ngắn, có bầu Dê vú và núm vú rất phát triển. Dê Barbari trưởng thành sinh dục sớm, thường sinh lứa đầu khoảng 16 tháng tuổi. Giống dê này thích hợp cho hướng nuôi giam nên dễ phát triển vùng chung quanh đô thị. Sản lượng sữa bình quân ở Ân Độ là 118 kg trong chu kỳ cho sữa 183 ngày. Cao vai trung bình 60 – 76 cm. Trọng lượng trưởng thành dê đực là 49 kg và dê cái là 35 kg. Giống dê này đã được nhập vào và phát triển tốt ở nước ta.

#Tags: