Kỹ thuật nuôi ếch

Hình đại diện Kỹ thuật nuôi ếch
Hình đại diện Kỹ thuật nuôi ếch

Kiến thiết khu nuôi ếch

Để có nơi nuôi ếch tốt, bạn cần chọn nơi yên tĩnh, đất thịt, không quá chua hoặc quá mặn, đủ ánh sáng, có nguồn nước sạch và có thể lấy vào và tháo ra một cách chủ động. Trong tự nhiên chúng ta thấy nơi nào có nước ngọt và không khí nóng ẩm là nơi đó có nhiều ếch nhái.

Đời sống của ếch trải qua các giai đoạn rất khác nhau. Lúc nhỏ, chúng là nòng nọc sống hoàn toàn ở dưới nước. Khi biến thái thành ếch, chúng sống cả ở dưới nước cả trên cạn. Vì vậy, nơi nuôi ếch phải phù hợp theo từng giai đoạn sống. Nếu có điều kiện, bạn nên có bốn loại ao hoặc bể nuôi riêng các loại: Ếch đẻ, nòng nọc, ếch con và ếch thịt. Nơi cho ếch đẻ có thể rộng từ 20 – 100m², nước sâu từ 0,30 – 1,2cm. Tuy nhiên, trong khu vực này ta phải có những chỗ nước nông, tốt nhất là có bờ ao thoai thoải để ếch cặp nhau đẻ. Cũng có thể bố trí trong khu vực này những hào hoặc rãnh nước lớn. Kích thước của chúng không bắt buộc, có thể rộng hoặc hẹp. Dù sao thì chiều rộng cũng phải từ 40 – 50cm trở lên. Khi cặp đôi, ếch cái thường cõng ếch đực và đứng ở nơi nửa chìm, nửa nổi ven bờ. Trên mặt nước nên phủ một lớp bèo tây khoảng 1/2 diện tích. Có thể lợi dụng bể xây hoặc ao nuôi ếch thịt làm nơi cho ếch đẻ. Tuy nhiên, phải chú ý tẩy dọn sạch sẽ và bố trí cho phù hợp.

Nơi nuôi nòng nọc có kích thước rộng, hẹp tuỳ theo quy mô nuôi, diện tích từ 5 – 30m², nước sâu 0,5 – 0,7m. Nên dùng bể xây ương nuôi nòng nọc để tránh các loại địch hại và dễ vớt khi thu hoạch.

Nơi nuôi ếch con có diện tích từ 5 – 20m². Diện tích mặt nước chiếm từ 1/2 – 3/5 khu nuôi. Nước sâu từ 0,02 – 0,2 m. Đáy ao nên là nền đất thịt cứng. Phần đất còn lại là nền đất bờ ao dùng làm nơi ếch ở hoạt động và bắt mồi. Ngay sát mép nước làm các hang, hốc cho ếch ở thường được gọi là “mà”, “mà” này sát “mà” kia. Chúng cách nhau bởi chính hàng gạch ngàn giữa. Có thể bố trí 20 – 30 “mà” liền một chỗ. Ta gác cây hoặc ván lên trên. Sau đó, đắp đất lên toàn bộ hệ thống. Có thể trộn đất với rơm như kiểu trát vách để phủ lên trên. Lớp phủ nên dày từ 20 – 40cm. Cũng có thể làm các hầm bằng tre hoặc gỗ, trên có phủ đất. Trên mặt ao ta phủ 1/2 – 2/3 bèo tây. Để đề phòng địch hại và ếch chạy trốn, xung quanh ao hoặc bể nuôi nên vây bao bằng phên tre, nứa, lưới ni lông hoặc tường xây có chiều cao tối thiểu 0,5m. Cũng có thể sử dụng các ô nuôi lợn làm chỗ nuôi ếch con. Ta cho đầy nước vào máng ăn. Vứt bèo tây tươi vào xung quanh ô nuôi. Phải thường xuyên tưới ẩm cho bèo và cho cả ổ nuôi đó. Chính giữa, kê một miếng gỗ làm giá để thức ăn. Đây là thời kỳ luyện cho ếch tập ăn dần thức ăn tinh. Việc luyện này mật độ 2 – 3 ngày. Tường chỉ cần cao 50cm là ếch con không thể nhảy ra được. Mỗi mét vuông nên thả từ 500 – 700 con là vừa. Không nên để mật độ quá dày.

Cũng có thể dùng sân gạch được quây xung quanh bằng ni lông làm chỗ nuôi ếch con. Lưu ý phải tổ chức che mát và để một lượng nước sâm sấp 5 – 10cm trong sân, và vứt bèo tây tươi vào sân.

Ếch con thích chui rúc trong các cụm bèo. Nơi nuôi ếch thịt cũng có điều kiện tương tự như nơi nuôi ếch con. Tuy nhiên, ao và bể này phải rộng và sâu hơn. Diện tích nó từ 20 – 100 m², nước sâu từ 0,8 – 1,0m. Bờ tường chắn phải cao từ 1.2m trở lên. Xung quanh bờ ao và trên khu vực “mà” ta cần trống kín khoai nước, khoai lang, chuối, đu đủ, cam, quýt… và làm thêm dàn mướp, dàn nhót… để tạo thêm bóng mát, giữ ẩm cho khu ếch ở, đồng thời tăng thêm nguồn thu nhập. Tuy nhiên, nhiệm vụ trọng tâm là che mát cho khu nuôi. Ta cũng cần lưu ý, ở tất cả các ao và bể nuôi ếch, đáy cần dốc (khoảng 3°C) về một phía để dễ tháo cạn và có đường dẫn nước vào, ra. Các đường này phải có đăng hoặc lưới chắn cẩn thận để ngăn cho ếch khỏi thoát ra ngoài.

Cách sản xuất ếch giống

Để có ếch con nuôi, có nhiều cách: Có thể mua hoặc câu ếch con ở ngoài ruộng về thả: có thể hót trứng ếch về ương hoặc có thể chủ động cho ếch đẻ. Đối với những người lần đầu bắt tay vào nuôi ếch thì có lẽ cách thứ nhất là dễ hơn cả. Nhưng nếu để chủ động tạo nguồn giống cho sản xuất lớn thì cách cuối cùng là tốt nhất.

Hiện nay, đại bộ phận những người nuôi ếch đều thu giống bằng cách câu ếch con. Mồi của nó là một dây nhựa màu hồng hoặc màu đỏ, dài độ 2cm và rộng 0,2cm. Ta buộc vào dây cước và nhử. Ếch con tưởng là con mồi, nhảy lên đớp. Nó giữ rất chặt. Ta nâng lên, đồng thời dùng một vợt hứng phía dưới. Ếch nhả ra và rơi vào đúng vợt.. Bằng cách này, một em nhỏ đi câu một buổi sáng cũng có thể được 1 – 2 kg ếch con. Khi thu về nhớ loại ngoé ra vì câu rất dễ lẫn.

Cách cho ếch đẻ

Sau khi qua đông, chọn các cặp ếch bố mẹ tốt để cho đẻ, có thể phân biệt ếch đực, ếch cái nhờ các đặc điểm sau:

Ếch đực thường nhỏ hơn ếch cái cùng lứa.

Hai bên hầu của ếch đực có nếp da nhăn màu vàng thẫm, to bằng hai hạt ngô. Nó được gọi là “túi kêu”, ở ếch cái không có “túi kêu”.

Tại gốc ngón tay thứ nhất ở chi trước của ếch đực có một mấu lồi màu xám đen gọi là “chai tay” hay “chai sinh dục”. Đây là một mấu da đã hoá sừng. Ếch đực dùng “chai tay” để bám vào ếch cái khi cặp đôi. Chúng luồn hai tay vào nách nhau, ghì chặt và dùng “chai tay” đó để cào vào ngực ếch cái, thông báo cho nó biết: “Ta là ếch đực”. Nó ôm rất chặt, đó lại những vết hằn trên ngực ếch cái. Ở tư thế đó, sau khi con cái phóng trứng ra, con đực sẽ phóng tinh lên trên để thụ tinh cho trứng. Sự thụ tinh của ếch là sự thụ tinh ngoài.

Ếch đực càng trưởng thành thì chai tay càng dài và càng rõ. Ở ếch cái “chai tay” không rõ. Rất tiếc, trong tự nhiên vẫn có hiện tượng “nhầm” đáng hổ thẹn: Hai ếch đực do không nhận ra đã ôm nhau một cách vô duyên!

Đến mùa sinh sản, ếch cái phát dục tốt và có bụng phình to, mềm, trong lúc bụng ếch đực vẫn thon nhỏ.

Sau khi chọn được bố mẹ tốt, thả chúng vào nơi cho đẻ đã được chuẩn bị từ trước. Tỷ lệ ghép đôi là một đực, một cái. Mật độ thả nên là một đôi/m².

Nơi ếch đẻ phải thật yên tĩnh. Cần quan sát thường xuyên, nhất là sau các cơn mưa rào tháng 3, tháng 4. Lúc đó ếch thường ra đẻ. Dấu hiệu thời kỳ đẻ trứng của ếch thường là hiện tượng ếch đực kêu liên tiếp trước khi ếch cái đẻ 3 – 4 ngày. Ếch thường đẻ trứng ở vùng ven bờ, giữa các đám bèo hoặc cạnh các mô đất, cọng cỏ nhô từ dưới lên. Trứng ếch hình cầu, đường kính khoảng 1,5 – 1,8 mm. Nó có hai phần rõ rệt: Một nửa hình cầu màu đen luôn luôn hướng lên phía trên được gọi là cực động vật, một nửa hình cầu phía dưới màu trắng. Nếu xoay cực động vật xuống dưới thì sau một thời gian ngắn nó sẽ tự quay trở lại để lên trên. Nếu thấy trứng không tự xoay được hoặc chỉ có màu trắng thì trứng đã bị ung, cần loại bỏ.

Xung quanh trứng có một màng nhầy trong suốt bao bọc. Nhờ màng nhầy này mà trứng đã liên kết lại với nhau và nổi thành từng đám trên mặt nước. Cá có thể ăn từng quả trứng nhưng nếu kết thành cả đám như vậy thì cá không ăn được. Chất nhầy bao quanh trứng còn làm tăng độ hội tụ ánh sáng, nâng nhiệt độ lên để trứng nhanh nở. Ếch có thể đẻ ngay trong năm đầu khi ếch đực đạt khoảng 45 gam và ếch cái khoảng 55 gam. Tuy nhiên, ếch được 2 – 3 năm thì đẻ tốt hơn. Nó đẻ 2 – 3 đợt. Mỗi ếch cái một đợt có thể đẻ từ 3.000 – 4.500 trứng.

Cách ương trứng ếch

Khi vớt trứng ếch, bạn cần làm khéo léo, tránh làm vỡ màng nhầy của đám trứng làm cho chúng vón lại. Nếu trứng bị vón cục thì sẽ dễ bị ung. Ta có thể dùng chậu thau ấn nhẹ xuống mặt nước để thu trứng. Trứng thu được đem ương trong một dụng cụ gọi là “giai” bằng ni lông hoặc tơ tằm. Giai ương cỡ 90cm x 50cm x 25cm có thể ương được từ 1 – 3 vạn trứng. Cũng có thể ương trứng trong chậu hoặc khay men. Phải thay nước thường xuyên, 3-4 giờ/1 lần. Mật độ ương khoảng 2 – 3 trứng/1 cm². Cần dùng nước sạch để ương trứng. Để có nguồn nước sạch đưa vào thường xuyên, có thể sử dụng hệ thống bình thông nhau: Để một chậu đựng nước sạch ở trên cao, nối một dây cao su đưa nước xuống chỗ ương trứng và từ đó lại có một ống cao su đưa nước ra ngoài. Như vậy, dòng nước sạch luôn luôn được bổ sung và nước cũ được đưa ra. Nếu dùng nước máy, cần trữ khoảng 2 – 3 ngày cho bay hết khí clo rồi hãy dùng. Giữ cho nhiệt độ không lên quá 33°C. Có thể đếm trứng theo cách tính ô nhỏ rồi suy ra toàn bộ. Riêng đối với nòng nọc, có thể đếm bằng chén, bằng bát như kiểu đếm cá con.

Trứng ếch đã thụ tinh đem ương, chỉ sau 18 – 21 giờ ở nhiệt độ 23 – 27°C là đã nở thành nòng nọc. Nòng nọc mới nở bơi lội rất yếu. Chúng sống nhờ bọc noãn hoàng ở dưới bụng trong vòng 2 – 3 ngày đầu. Sau đó, nòng nọc có thể tự bơi đi kiếm ăn.

Cách nuôi nòng nọc

Nòng nọc mới nở trong tuần bơi lội rất chậm chạp. Nó dễ bị các loài khác ăn thịt. Vì vậy, nơi nuôi nòng nọc cần phải được tẩy dọn thật sạch sẽ. Có thể dùng vôi sống để tẩy với liều lượng 2 – 3 kg/100 m² ao. Sau khi đã tẩy sạch, ta cần thay nước mới. Để 2 – 3 ngày sau mới có thể dùng được. Chúng tôi thường ương nòng nọc trong các chậu to, trong các bể nhỏ để dễ thay nước. Khi chúng bắt đầu mọc chân, thì mới đưa chúng ra những chỗ rộng hơn.

Thức ăn trong khoảng 10 ngày đầu của nòng nọc chủ yếu gồm các loại động vật phù du, giáp xác. Bọn này có thể sinh sôi nhanh trong điều kiện nguồn nước có nhiều phân hữu cơ. Ta có thể bón phân hữu cơ với liều lượng 0,2 – 0,3 kg/m² vào ao trước 2 – 3 ngày khi thả nòng nọc vào. Thức ăn bổ sung cho nòng nọc bao gồm cám gạo, cám ngô, khô dầu hoặc tôm khô được nghiền nhỏ. Cũng có thể bổ sung cho chúng lòng đỏ trứng gà đã luộc. Mồi ngày cho 1.000 con ăn khoảng 30 – 50 g. Mật độ thả nòng nọc thường từ 1.000 – 2.000 con/m². Do nòng nọc lớn không đều sẽ dẫn tới việc con lớn ăn tranh thức ăn của con bé. Vì vậy, từ ngày nuôi thứ 10 – 12 ta nên san đàn và phân ra các loại lớn, nhỏ khác nhau để nuôi riêng. Mọi việc phải được thực hiện hết sức gượng nhẹ vào lúc sáng hay chiều tối bằng các loại lưới hoặc vợt mềm. Cần thường xuyên theo dõi nơi nuôi nòng nọc để phát hiện các loại địch hại, bệnh tật, hiện tượng rò rỉ nguồn nước hoặc nước bị biến chất, thường nuôi nòng nọc vào mùa hè. Do đó, nếu ương với mật độ dày, diện tích hẹp sẽ làm nước hay bị biến đổi. Khi thấy nước có nhiều tăm bọt, màu đen và có mùi thối thì cần thay nước mới ngay. Khi quan sát thấy nòng nọc mọc hai chân sau rồi hai chân trước thì cần thả thêm bèo tây và một số miếng gỗ nổi trên mặt ao. Ếch con sẽ bò lên đây để nghỉ. Cũng lúc này ta giảm dần tới ngừng hẳn việc cung cấp thức ăn trong khoảng 2 – 3 ngày. Ếch sẽ sử dụng các chất dự trữ ở đuôi để sống trong quá trình biến thái. Đuôi của nòng nọc teo dần chứ không phải nó đã bị “rụng” đi. Người ta xác định được rằng, đuôi và mang của nòng nọc đã bị các tế bào bạch cầu của máu phân huỷ rồi tiêu biến dần. Con nòng nọc biến thành con ếch con hoàn chỉnh. Ếch bắt đầu sống cuộc đời nửa nước, nửa cạn.

Giai đoạn ương nòng nọc phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt độ. Với thời tiết mùa hè, giai đoạn này kéo dài từ 25 – 30 ngày và có khi tới hơn 40 ngày.

Cách nuôi ếch con

Mật độ nuôi thả ếch con rất phụ thuộc vào điều kiện nơi nuôi, khả năng cung cấp thức ăn và nguồn giống cung cấp. Thông thường thì mật độ thả từ 300 – 500 con/m² với cỡ con giống khoảng 2 – 5 g/con. Thức ăn cho ếch con bao gồm các loại giun đất cỡ nhỏ, tôm, tép, giòi, cào cào, châu chấu, cua, nòng nọc v.v… Tuy nhiên, cỡ mồi ăn phải có chiều dài nhỏ hơn chiều rộng của mồm ếch. Lượng thức ăn cần khoảng 50 – 100g cho 100 con trong 1 ngày. Ngay từ lúc này chúng ta cũng có thể luyện cho ếch con ăn thức ăn tinh. Thức ăn đó gồm: Gạo, cám, rau xanh và cá. Cố gắng đảm bảo tỷ lệ cá ít nhất đạt 1/5 tổng trọng lượng của thức ăn cũng có thể thay cá bằng tôm, tép, cua, ốc và cắt nguồn đạm động vật khác. Phải nấu chín thức ăn cho mềm để ếch con dễ ăn, phải tập cho chúng ăn dần dần. Lúc đầu cho ăn ít một cùng với các nguồn thức ăn động vật khác. Dần dần tăng thêm lên để đến lúc có thể thay hoàn toàn. Cho ếch ăn trên các sàn ăn bằng gỗ hoặc tấm phên nứa đặt nổi trên mặt nước. Ếch nhảy lên đồ ăn. Cũng có thể đổ thức ăn lên các miếng chiếu rách hoặc các tấm ni lông đặt ở trước của hang của ếch, theo dõi khả năng ăn của ếch, ăn hết ta lại cho thêm. Ếch càng lớn ăn càng khỏe, nên cho ếch ăn hai bữa vào sáng sớm và chiều mát.

Cũng có nơi chỉ cho ếch ăn một bữa vào lúc chập tối. Việc theo dõi chăm sóc chỗ nuôi ếch con cũng giống như ở chỗ nuôi nòng nọc. Cần quan sát thường xuyên tình hình hoạt động, sinh sống của ếch, sự biến đổi của mặt nước, đề phòng địch hại và phòng ếch trốn thoát.

Nuôi sau một tháng ếch có thể đạt cỡ 20 – 25 g/con. Lúc này phân đàn, nuôi riêng từng loại, để tránh sự cạnh tranh và cắn lẫn nhau. Các sách vở trên thế giới cũng mô tả ếch như một loài hiền lành. Thế nhưng, khi nuôi với mật độ dày vì nguồn thức ăn có nguồn gốc động vật ít, chúng ta quan sát thấy hiện tượng ếch lớn nuốt chửng ếch con. Đây là một sự thật phủ phàng mà người nuôi ếch phải lưu tâm. Vì vậy nên phân đàn để mỗi khu vực chỉ nuôi một loại ếch đồng đều.

Khi cần bắt ếch con, dùng vợt lùa ếch vào. Chú ý, mọi thao tác phải nhẹ nhàng và thực hiện vào lúc trời mát mẻ.

Cách nuôi ếch thịt

Nếu ếch giống đạt 20 – 25 g/con thì chúng ta thả 40 – 60 con/m². Phấn đấu nuôi chúng lên cỡ 100 g/con. Chú ý đảm bảo cỡ ếch đồng đều trong khu nuôi. Thức ăn cho chúng cũng tương tự như thức ăn cho ếch con. Lượng thức ăn hàng ngày khoảng 8 – 10% khối lượng ếch. Có thể cho ăn 1 – 2 lần trong ngày. Mọi thủ tục như cho ếch con ăn.

Để tăng thức ăn cho ếch thịt, có thế bố trí thêm một số biện pháp: Mắc đèn để bẫy châu chấu, cào cào và các loại côn trùng; xây dựng một ô nuôi giun quế, một ô tạo ấu trùng của ruồi nhưng có nắp đậy kỹ càng, hàng ngày ta thu hoạch để cung cấp cho ếch. Trong ao nuôi thả cá rô phi. Chúng sinh sôi rất nhanh và là nguồn đạm bổ sung cho ếch. Qua kinh nghiệm của các cơ sở nuôi, sau 3 – 4 tháng, ếch có thể đạt tới trọng lượng 50 – 80 g/con. Lúc này đã có thể xuất bán. Cách thu hoạch ếch thịt cũng tương tự ở ếch con.

Cách vận chuyển ếch

Khi vận chuyển nòng nọc, có thể dùng xô, thùng bằng gỗ hoặc bằng sắt. Mỗi thùng đựng khoảng 20 lít nước thì thả 500 – 1.000 con.

Nếu vận chuyển ếch con, dùng bồ, rổ mau, thùng gỗ trong có lót bèo tây để giữ độ ẩm, mỗi thùng khoảng 200 – 500 con.

Còn khi vận chuyển ếch thịt dùng thùng gỗ mà vách và đáy có đục lỗ thông hơi. Cũng có thể dùng lồng, bu bằng tre trong đó có lót bèo tây hoặc bao tải cũ để tránh va chạm mạnh khi đưa ếch đi. Nếu vận chuyển nhiều thì ta đan lồng theo kiểu bẹt, cao chỉ độ 20cm để có thể xếp thành nhiều tầng. Tuỳ thiết diện đáy mà ta nhốt nhiều hay ít.

Hết sức chú ý đừng để ếch chồng chất lên nhau. Hàng ngày phải thường xuyên tưới ẩm cho chúng.

Phòng ngừa và chữa bệnh cho ếch

Trong vòng đời của ếch, giai đoạn nòng nọc là giai đoạn dễ bị các loại địch hại và bệnh tật nhất.

Nòng nọc thường bị các loài động vật giết hại như: rắn, chuột, chim, cá dữ, cua, ếch lớn v.v… Vì vậy, ao nuôi nòng nòng và ếch con phải có phên hoặc tường che chắn cẩn thận. Trước khi nuôi, phải tẩy dọn sạch sẽ.

Về bệnh, nòng nọc thường mắc bệnh chướng hơi và bệnh trùng bánh xe gây ra.

Bệnh chướng hơi làm bụng nòng nọc trương phồng lên, nó nổi trên mặt nước rồi chết. Bệnh này do thức ăn khó tiêu gây nên. Bệnh thường xảy ra trong những ngày nóng bức, chất nước xấu. Để đề phòng, cần giữ cho nước sạch. Vào các ngày nóng nhiều thì cho chúng ăn các loại thức ăn dễ tiêu, chất lượng tốt, cho ăn làm nhiều lần, mỗi lần cho ăn vừa phải.

Bệnh trùng bánh xe do ký sinh trùng trichodina có hình bánh xe gây nên. Bệnh tạo nên những điểm màu trắng bạc trên màng vây và đuôi của nòng nọc. Con bị bệnh bơi ngắc ngoải, cựa quậy liên tục như ngứa ngáy rồi bỏ ăn và chết. Chúng chết hàng loạt.

Bệnh này thường xảy ra ở nơi nước bẩn và lúc này nhiệt độ nước không cao (khoảng 22 – 24°C). Khi bị mắc bệnh có thể điều trị bằng cách, mỗi ngày phun một lượng sunphát đồng (CuS04) với liều lượng 2 – 3 gam cho 1m³ nước. Cũng có thể chữa bằng cách: Hoà hai chai penicillii (500.000 đ.v) vào một chậu tắm lớn. Sau đó thả nòng nọc bị bệnh nào đó. Tới lúc nào chúng hoạt động bình thường trở lại thì ta vớt ra. Tuy nhiên thời gian ngâm nòng nọc không nên quá 2 giờ.

Một bệnh khác rất phổ biến ở ếch trưởng thành là bệnh do nhiễm trùng ngoài da. Phần lớn là do ếch cắn nhau hoặc bị trói buộc mà gây ra những sây sát trên da. Cũng có khi do xây tường nhưng không láng, vữa xi măng nhô ra, sắc cạnh, ếch nhảy lên bị va vào và sây sát sẽ rất dễ bị các bệnh loét, lở do vi trùng xâm nhập. Chúng cũng dần dần tử vong. Do đó, chú ý khi bắt và nhốt ếch ta không nên đổ quá chật và không nên dùng dây buộc. Tường bao của khu nuôi ếch phải láng trơn.

Ếch nuôi cũng thường hay mắc bệnh đường ruột. Con bị bệnh thường bị trương bụng, hậu môn lồi ra. Chúng có thể chết hàng loạt. Bệnh này do thức ăn bị thiu, thối vì để lưu cữu qua ngày. Để chống bệnh, ta lưu ý hàng ngày dọn sạch máng ăn, không cho ếch ăn thức ăn tồn đọng từ hôm trước. Để chữa bệnh, ta nghiền nát thuốc ganidan (hoặc các loại thuốc đi rửa khác) và trộn đều vào thức ăn. Tốt nhất là trộn vào với các phần thức ăn tinh, các phần tôm, cá trong khẩu phần. Ếch ăn sau 1 – 2 ngày sẽ khỏi bệnh.