Điều khiển quạt hút khí nóng máy ấp trứng

Hình đại diện Điều khiển quạt hút khí nóng máy ấp trứng
Hình đại diện Điều khiển quạt hút khí nóng máy ấp trứng

Khi nhiệt độ trong máy vượt quá mức yêu cầu, quạt hút khí nóng sẽ làm việc để hút khí nóng trong máy ra nhanh hơn, giữ cho nhiệt độ trong máy không bị tăng quá mức cho phép. Khi nhiệt độ trong máy giảm tới mức yêu cầu thì quạt hút ngừng hoạt động. Khi nhiệt độ trong máy vượt quá yêu cầu 0,3°c, thí dụ nhiệt độ yêu cầu là 38°c, nếu tăng lên 38,3°c thì quạt hút làm việc.

Điều khiển quạt hút gồm các thiết bị: nhiệt kế công tắc, rơle trung gian (RLTG) và khởi động từ (KĐT).

Quá trình hoạt động của quạt hút như sau:

Quy trình hoạt động của quạt hút

Quy trình hoạt động của quạt hút

Nếu nhiệt độ trong máy hạ xuống dưới 38°c thì giữa dây kim loại và cột thủ ngân của nhiệt kế công tắc (NKCT) lại xuất hiện một khoảng cách ngăn không cho dòng điện đi qua. vì vậy cuộn dây của rơle trung gian không có điện, rơle trung gian không hút và tiếp điểm thường mở tách ra, ngăn không cho dòng điện đi qua.

Do đó cuộn dây của KĐT mất điện, khởi động từ không hút nữa và quạt hút khí nóng ngừng làm việc.

Đe hạ nhiệt trong máy khi quá mức yêu cầu, có thế mở van cho nước lạnh vào óng dẫn nước quanh máy. Để đóng mở van điện từ cho nước lạnh vào máy có thể nối trực tiếp hai đầu cuộn dây của van nước điện từ vào cặp tiếp điểm thường mở (1-3) của RLTG, vì cuộn dây này tiêu hao ít điện.

Báo động nhiệt độ cao

Bình thường trong các máy ấp, nhiệt độ bảo động là từ 38 – 38,5°C, ở nhiệt độ này chuông sẽ kêu và đèn báo động nhiệt sẽ bật sáng, báo cho người trực ca biết để xử lý ngay.

Nhiệt kế công tắc điều khiển báo động

Nhiệt kế công tắc điều khiển báo động

Điều khiển chuông báo động và đèn báo động ở nhiệt độ cao có thể sử dụng màng ête đóng mở công tắc, hoặc nhiệt kế công tắc và rơle trung gian.

Nối nguồn điện đi vào chuông và đèn báo động với cặp tiếp điểm thường mở của công tắc. Chỉnh khoảng cách màng ête và công tắc sao cho đúng 38,5°C thì màng ête phồng ra sẽ ép vào công tắc nói mạch cho cặp tiếp điểm thường mở 1 – 3. Nhờ vậy chuộng và đèn sẽ có điện để hoạt động.

Khi nhiệt độ trong máy ấp giảm, màng ête co lại, làm cần công tắc nhả ra, ngắt mạch của cặp tiếp điểm thường mở, làm chuông và đèn ngừng hoạt động.

Neu dùng nhiệt kế công tắc để điều khiển hệ thống báo động thì khi nhiệt độ trong máy chưa tới mức phải báo động, giữa dây kim loại và cột thuỷ ngân của nhiệt kế công tắc sẽ có khoảng cách làm mạch điện đi qua cuộn dây của rơle trung gian bị hở. Do vậy rơle trung gian không hút.

Nguồn điện cho chuông và đèn đi qua tiếp điểm thường mở (1 – 3) của rơle trung gian bị ngắt, không có điện.

Khi nhiệt độ trong máy tăng quá 38,5°C nối mạch cho điện đi qua nhiệt kế công tắc vào cuộn dây của RLTG hút và nối mạch cho cặp tiếp điểm thường mở (1 – 3), cấp điện cho chuông và đèn hoạt động.

Báo động nhiệt độ thấp

Các máy ấp có lắp báo động khi nhiệt độ trong máy hạ xuống dưới 35 – 36°C.

Điều khiển chuông, đèn báo động nhiệt độ thấp là thiết bị có màng đóng mở công tắc, hoặc nhiệt ké công tắc với rơle trung gian.

Điện đi vào chuông và đèn báo hiệu nhiệt độ thấp được nối qua tiếp điểm thường đóng (1 – 2) của công tắc.

Để đặt báo động, người ta cho nhiệt độ của mấy hạ xuống từ từ. Khi tới 35 – 36°c, vặn núm cho màng ête xa dần cần của công tắc tới khi có chuông thì dùng. Lúc đó cần có biện pháp cấp nhiệt tăng lên. Khi nhiệt độ trong máy vượt quá 35°c thì màng ête nở ra, ép cần công tắc ngắt điện đi qua cặp tiếp điểm thường đóng 1-2 làm chuông và đèn ngùng hoạt động.

Khi vì lý do nào đấy, nhiệt độ trong máy bị hạ dần xuống dưới 35°c, màng ête xẹp lại tới khi vừa đủ để cần công tắc bật ra, nối mạch cho cặp tiếp điểm thường đóng (1 – 2) cấp điện cho chuông và đèn hoạt động.

Điều khiển nhiệt độ hoạt động của máy ấp nở trứng

Máy ấp đơn kỳ: Máy ấp đơn kỳ là máy chỉ ấp một mẻ trứng một lần, không có các loại trứng ở tuổi ấp khác nhau trong cùng một máy. vì vậy chế độ cho máy ấp đơn kỳ phải thay đổi cho phù họp với sự phát triển của phôi.

Thí dụ:

Máy ấp đa kỳ: Thường là loại mảy có công suất lớn, trong đó trứng vào ấp gồm nhieu đợt khác nhau (thường 6 đợt). Vì vậy để đảm bảo chế độ ấp cho trứng ở các tuổi ấp khác nhau thì chế độ ấp của máy thường ổn định. Máy ấp đa kỳ buộc phải có máy nở riêng.

Chế độ nhiệt trong máy ấp đa kỳ ở đợt trứng đầu tiên là 37ºC, sau 16 này ấp còn 37,5ºC.

Khi ấp được 18 ngày ở máy đa kỳ và 19 ngày ở máy đơn kỳ trứng ấp được chuyển sang máy nở (đối với trứng gà). Chế độ nhiệt ở máy nở là 36,8 – 37,5°C(98,6 – 98,8°F). Đối với trứng vịt 8-24 ngày ấp thì chế độ nhiệt là 37,3 – 37,5°C; còn 25 – 28 ngày ấp là 37,2 – 37,4°C.

Những nguyên nhân gây nhiệt độ cao và cách xử lý

Nguyên nhân

Cột thuỷ ngân của nhiệt kế công tắc bị đứt.

Vòng chì tiếp xúc điện của nhiệt kế công tắc cố định bị bẩn.

Rơle trung gian bị hỏng.

Các lỗ hút khí nóng mở quá nhỏ.

Quạt hút khí nóng bị hỏng.

Nhiệt độ phòng ấp quá cao.

Máy áp dùng hết công suật trong mùa hè.

Các lô ấp ở máy đa kỳ bố trí quá sát nhau.

Quạt trong máy bị hỏng môtơ hoặc đứt dây curoa.

Chỉnh sai nhiệt kế công tắc điều khiển hoặc lắp nhầm nhiệt kế công tắc cố định không đúng nhiệt độ.

Cách xử lý

Mở cửa máy ấp cho hạ nhiệt.

Kiểm tra lại các nhiệt kế công tẩc và mối tiếp xúc vói điện.

Thay các nhiệt kế công tắc bị hỏng.

Mở rộng các lỗ thông khí.

Không vào trứng sát nhau trong máy đa kỳ.

Kiểm tra và sửa các quạt, rơle trung gian nếu bị hỏng.

Nếu sửa chữa máy lâu, phải chuyển trứng sang máy khác.

Những nguyên nhân gây nhiệt độ thấp và cách xử lý

Nguyên nhân

Các của thông gió mở quá lớn.

Dây may so cấp nhiệt bị đứt, hoặc mất điện vào do các mói tiép xúc bị bẩn, hỏng.

Khởi động từ bị hỏng (không hút).

Cửa máy đóng không kín.

Nhiệt độ môi truồng quá thấp (mùa đông).

Mất pha hoặc điện nguồn yếu.

Âm độ trong máy quá cao.

Cách xử lý

Khép bớt các cửa thông khí của máy.

Đóng chặt cửa máy.

Kiểm tra dây may so và các tiếp điểm phần điện.

Tạm thời ngắt ẩm cho nhiệt tăng.

Phòng ấp được đóng kín không cho gió lạnh vào.

Thêm bóng điện 100W vào máy áp, để bổ sung nhiệt.

Khi máy hỏng phải chuyến trứng sang máy ấp khác.