Đặc tính thực vật học của hoa Lily

Hình đại diện Đặc tính thực vật học của hoa Lily
Hình đại diện Đặc tính thực vật học của hoa Lily

Lily là cây thân thảo lâu năm. Phần dưới mặt đất gồm thân vảy, rễ. Phần trên mặt đất gồm lá, thân, mầm hạt (một số không có mầm hạt).

Thân vảy

Thân vảy là phần phình to của thân tạo thành. Trên dĩa thân vảy có vài chục vảy hợp lại, vảy hình cầu dẹt, hình trứng, hình trứng dài, hình elip…Chất đất, kỹ thuật trồng và tuổi của thân vảy ảnh hưởng rất lớn đến hình thái thân. Thân vảy không có vỏ bao bọc. Màu sắc thân vảy thay đổi tuỳ theo loài và các giống khác nhau: màu trắng, màu vàng, màu đỏ cam, màu đỏ tím… Kích thước của thân vảy cũng tuỳ thuộc vào các loài, giống khác nhau. Loại nhỏ chu vi 6cm, nặng 7 – 8 gam, loại to chu vi 24 – 25cm, nặng trên 100gam, loại đặc biệt chu vi 34 – 35cm, nặng 350gam.

Độ lớn của thân vảy tương quan chặt chẽ với số nụ hoa. Ví dụ: giống Lily thơm chu vi thân vảy là 9 – 11cm có 1 – 2 nụ, chu vi thân vảy là 12 – 14cm có 2 – 4 nụ, chu vi thân vảy là 14 – 16cm có trên 4 nụ. Các giống tạp giao Phương Đông, và tạp giao Á châu số nụ cũng tỷ lệ thuận với chu vi thân vảy…

Vảy có hình elip, hình kim xoè ra, có đốt hoặc không có đốt. Mầm vảy to ở ngoài, nhỏ ở trong, là nơi dự trữ nước và dinh dưỡng của thân vảy, trong đó nước chiếm 70%, chất bột 23%, một lượng nhỏ Protein, chất khoáng, chất béo. Theo Lin Line (1970) số lượng vảy cũng tỷ lệ thuận với số lá và số hoa, số vảy càng nhiều thì số lá và số hoa càng nhiều. Nếu bóc bỏ lớp vảy ngoài thì tôc độ nảy mầm của củ nhanh hơn, nhưng tốc độ hình thành của các cơ quan sinh sản giảm, hoa ra muộn hơn.

Rễ

Rễ Lily gồm 2 phần: rễ thân và rễ gốc. Rễ thân còn gọi là rễ trên, do phần thân mọc dưới đất sinh ra, có nhiệm vụ nâng đỡ thân, hút nước và dinh dưỡng, tuổi thọ của rễ này là một năm. Rễ gốc gọi là rễ dưới, sinh ra từ gốc thân vảy, có nhiều nhánh, sinh trưởng khoẻ, là cơ quan chủ yếu hút nước và dinh dưỡng của Lily, tuổi thọ của rễ này tới 2 năm…

Lá Lily mọc rải rác thành vòng thưa, hình kim, xoè hoặc hình thuôn, hình giải, đầu lá hơi nhọn, không có cuống hoặc cuống ngắn. Lá to hay nhỏ tuỳ thuộc vào giống, điều kiện trồng trọt và thời gian xử lý. Trên lá có từ 1 – 7 gân, gân giữa rõ ràng hơn, lá mềm có màu xanh bóng.

Củ con và mầm hạt

Đại bộ phận Lily có nhiều củ con ở gần thân rễ, chu vi mỗi củ từ 0,5 – 3cm, số lượng củ con tuỳ thuộc giống và điều kiện trồng trọt.

Một số giống như Quyển Đan và các giống tạp giao, ở nách lá có mầm hạt hình cầu hoặc hình trứng, khi chín có màu tím, tối, chu vi mầm hạt từ 0,5 – 1,5cm.

Hoa

Hoa Lily mọc đơn lẻ, hoặc xếp đặt trên trục hoa, bao hoa hình lá, nhỏ. Hoa chúc xuống, vươn ngang hoặc hướng lên. Hình dáng hoa là căn cứ chủ yếu để phân loại Lily. Ví dụ: loại hình loa kèn, 1/3 phía trước cong ngược lên; loại hình phễu 1/3 phía trước cong ngược ra; loại hình cái cốc, phía trước hơi cong; loại hình cầu cánh hoa 6 cái, 2 vòng nối nhau do 3 vòng đài và 3 cánh tạo thành, màu sắc như nhau nhưng đài hoa hẹp hơn, cánh đều có hình elíp, gốc có tuyến mật. Rất nhiều giống Lily ở gốc cánh có chấm màu tím, hồng… Nhị đủ 6 cái, giữa có cuông màu xanh nhạt, gắn với nhau hình thành chữ T.

Trục hoa nhỏ dài, đầu trục phình to, có 3 khía. tử phòng ở phía trên.

Màu sắc hoa lily rất phong phú: trắng, phấn hồng, đỏ, vàng, vàng cam, đỏ tím, tạp sắc… Màu sắc lôm đốm có đen, đỏ thắm, đỏ tím, đen nâu… Phấn hoa có màu vàng hoặc đỏ cam, đỏ nâu, nâu tím…

Quả

Quả hình trứng dài, mỗi quả có vài trăm hạt, bên trong có 3 ngăn. Hạt hình dẹt, xung quanh có cánh mỏng, hình bán cầu, hoặc 3 góc, vuông dài. Độ lớn của hạt, trọng lượng hạt, số lượng hạt tuỳ theo giống. Ví dụ: giống L.coniolor hạt nhỏ, đường kính = 5mm mỗi gam 700 – 800 hạt; giống L. henrgi, giống L. auratum hạt to, đường kính 12mm, mỗi gam có 170 – 180 hạt. Trong điều kiện khô, lạnh, hạt Lily có thể bảo quản được 3 năm.