Cho cá giò ăn và kiểm tra sinh trưởng

Hình đại diện Cho cá giò ăn và kiểm tra sinh trưởng
Hình đại diện Cho cá giò ăn và kiểm tra sinh trưởng

Thức ăn chiếm 40- 60% chi phí sản xuất trong nuôi cá lồng trên biển. Cho cá giò ăn tốt giúp cá sinh trưởng, phát triển tối đa, nâng cao sức khỏe của cá và tăng hiệu quả sử dụng thức ăn. Từ đó, nâng cao tỉ lệ sống, năng suất và sản lượng cá nuôi, giảm chi phí sản xuất và tăng lợi nhuận trên thể tích lồng nuôi.

Xác định loại và chất lượng thức ăn

Xác định loại thức ăn

Cá tạp bao gồm các loại cá nhỏ, nhuyễn thể như cá duội, cá cơm, cá mực, ruột hầu hà, tép moi,…

Thức ăn cá tạp sử dung cho cá giò

Thức ăn cá tạp sử dung cho cá giò

Thức ăn công nghiệp được chế biến dưới dạng viên nổi, kích cỡ theo giai đoạn phát triển của cá. Thành phần dinh dưỡng đòi hỏi theo yêu cầu của từng loài cá khác nhau và theo giai đoạn phát triển.

Xác định chất lượng thức ăn

Cá tạp thường có chất lượng không ổn định, thay đổi theo mùa vụ và loại thức ăn khác nhau, cách bảo quản. Yêu cầu đối với thức ăn là cá tạp cần phải tươi, không b ị ươn thối. Trước khi cho ăn cần rửa cá tạp bằng nước biển
loại bỏ chất bẩn và tạp chất.

Sử dụng thức ăn công nghiệp có độ đạm tối thiểu 42% cho sinh trưởng và phát triển tốt, thức ăn có độ đạm giảm dần từ <40% đến 35% cho sinh
trưởng chậm dần. Cá giò có khả năng sử dụng tốt với nhiều loại thức ăn công nghiệp khác nhau.

Thức ăn công nghiệp sử dụng cho cá giò

Thức ăn công nghiệp sử dụng cho cá giò

Xác định cỡ thức ăn

Thức ăn là cá tạp tùy theo giai đoạn phát triển của cá, giai đoạn cá còn nhỏ cần băm nhỏ theo cỡ miệng, giai đoạn cá lớn có thể để nguyên con. Thức ăn công nghiệp cho cá ăn cũng cần phải thay đổi cho phù hợp với cỡ miệng của cá. Trường hợp cho cá ăn không phù hợp cỡ miệng hiệu quả bắt mồi của cá sẽ giảm. Cỡ viên thức ăn phù hợp cho cá theo giai đoạn như sau:

Mối qua hệ  giữa kích cỡ cá và kích cỡ thức ăn công nghiệp  sử dụng

Mối qua hệ giữa kích cỡ cá và kích cỡ thức ăn công nghiệp
sử dụng

Xác định lượng thức ăn cho cá

Xác định khẩu phần ăn

Xác định khẩu phần ăn dựa vào loại thức ăn và khối lượng cá giò. Khẩu phần thức ăn của cá giò được tính dựa vào bảng dưới

Khẩu phần ăn cá giò theo loại thức ăn và giai đoạn phát triển

Khẩu phần ăn cá giò theo loại thức ăn và giai đoạn phát triển

Xác định khối lượng cá nuôi trong lồng

Xác định khối lượng cá dựa vào tỉ lệ sống và khối lượng trung bình cá nuôi. Tỉ lệ sống của cá giò có thể ước lượng thông qua sổ nhật ký theo dõi lượng cá chết hàng ngày hoặc thông qua đếm toàn bộ cá trong lồng. Khối lượng trung bình được xác đinh thông qua cân mẫu 30 con.

Khối lượng trung bình: Cân lần lượt khối lượng của 30 con, cộng tổng khối lượng 30 con và chia cho 30, ta thu được khối lượng trung bình của 1 con. Khối lượng cá lồng nuôi: Khối lượng trung bình 1 con cá x số lượng cá trong lồng.

Xác định số cá trong lồng được thực hiện thông qua các bước sau:

– Chuẩn bị dung cụ và vật liệu: dừng cho cá ăn ít nhất 01 bữa trước khi đếm, chuẩn bị xô, chậu, vợt, gang tay và sổ ghi chép.

– Xác định thời gian thực hiện: sáng sớm hay chiều mát, khi thời tiết
mát mẻ

– Mở nắp lồng và nhấc can cố định lồng

– Cán lồng lưới cho cá gọn sang 1 bên

– Đếm số lượng cá và ghi chép số liệu

– Thả can cố định và đan lại mặt nắp lưới lồng.

Tính khối lượng thức ăn theo ngày/lồng

– Các căn cứ để tính lượng thức ăn theo ngày/lồng:

+ Dựa vào tổng khối lượng đàn cá nuôi trong lồng. Công việc tính khối lượng cá được xác định vào cuối mỗi tháng nuôi để tính lượng thức ăn cho một tháng.

+ Dựa vào khẩu phần ăn được xác định theo loại thức ăn và theo khối lượng trung bình của đàn cá.

– Phương pháp tính:

Ví dụ: Khối lượng trung bình cá là 0.5 kg, số lượng cá trong lồng là 200 con, khẩu phẩn ăn cá tạp của cá là 6% khối lượng thân, khối lượng thức ăn theo ngày được tính như sau:

Khối lượng thức ăn theo ngày = 0.5 kg/con x 200 con x 0,06 = 6 kg

Cho cá ăn

Chuẩn bị thức ăn

Cân thức ăn

– Các bước chuẩn bị:

+ Cân đĩa: tùy thuộc khối lượng thức ăn.

+ Xô, chậu, ca.

– Cân thức ăn: Dựa vào khối lượng thức ăn được xác định, tiến hành cân thức ăn cho các ô lồng nuôi. Ghi chép khối lượng thức ăn từng ô lồng để đảm bảo cho ăn chính xác.

Xử lý thức ăn

Cá tạp được rửa sạch trước khi xay hoặc băm nhỏ cho phù hợp với kích cỡ miệng cá trong giai đoạn cá nhỏ hơn 100gr. Giai đoạn cá lớn trên 100g băm thức ăn to dần và ăn cả con giai đoạn sau. Trước khi xay hoặc băm nhỏ, cá tạp cần rửa sạch và loại bỏ tạp chất.

Thức ăn công nghiệp: có thể nên ngâm 5 – 10 phút bằng nước ngọt trước khi cho cá ăn ở giai đoạn cá còn nhỏ để tránh hiện tượng cá ăn quá no.

Đối với cả hai loại thức ăn, khi cần trộn vitamine C hoặc thuốc vào thức ăn, cần nghiền thuốc nếu ở dạng viên thành bột, hòa thuốc với nước ngọt và trộn đều vào thức ăn trước 15 phút để thuốc ngấm vào thức ăn.

Phương pháp cho ăn

Cho ăn theo phương pháp 4 “định” như sau:

– Định chất lượng thức ăn: Thức ăn không bị ôi, thối, chứa mầm bệnh và có đầy đủ các thành phần dinh dưỡng.

– Định vị trí: Cho ăn theo những vị trí xác định, đặc biệt với lồng Nauy, cho ăn ở tầng mặt, cá không bắt mồi khi thức ăn bị chìm xuống đáy.

– Định số lượng: Xác định đúng số lượng thức ăn theo khẩu phần từng giai đoạn.

– Định thời gian: Cho ăn ngày 02 lần vào sáng sớm (6- 8h) và chiều mát (16- 18h chiều).

Mùa đông khi nhiệt độ xuống dưới 18oC mỗi ngày chỉ cho cá ăn 1 lần.

Nếu nhiệt độ xuống dưới 15oC phải dừng việc cho ăn.

Kiểm tra hoạt động bắt mồi của cá

Thức ăn dư thừa nhiều sau khi cho cá ăn

Thức ăn dư thừa nhiều sau khi cho cá ăn

Hoạt động bắt mồi của cá phụ thuộc vào sức khỏe của cá, thời tiết, môi trường, thức ăn. Hàng ngày theo dõi tình trạng hoạt động và mức độ bắt mồi của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Sau 1 giờ cho cá ăn, kiểm tra nếu thấy thức ăn còn thừa, cần vớt bỏ để tránh gây nhiễm bẩn môi trường nuôi.

Cho cá ăn trên cơ sở lượng thức ăn đã tính toán và dựa vào lượng thức ăn có dư thừa sau 01h cho ăn để điều chỉnh lượng thức ăn. Thông thường cá ăn hết thức ăn, thì điều chỉnh lượng thức ăn tăng 5% và cá không ăn hết thì
giảm lượng cho ăn 5%.

Chú ý khi cá bị bệnh, thời tiết quá lóng, lạnh thì giảm lượng thức ăn từ 10-30%

Kiểm tra sinh trưởng

Định kỳ hàng tháng kiểm tra sinh trưởng cá giò. 02 chỉ tiêu cần quan tâm là đo chiều dài và khối lượng trung bình.

Thu mẫu cá

Trước thời điểm lấy mẫu, dừng cho cá ăn 01 bữa. Thông thường dừng bữa ăn chiều hôm trước và lấy mẫu đo tăng trưởng sáng hôm sau. Nhấc can cố định lồng và kéo 01 bên lưới lồng lên đến khi cá tập trung và có thể dùng
vợt vớt được. Dùng vợt vớt ngẫu nhiên 30 con cá giò chuyển vào thau (với cá nhỏ) hay thùng nước, bể composite (với cá lớn), sục khí nếu cần thiết.

 Nhấc can trước khi thu lưới

Nhấc can trước khi thu lưới

Cân và tính khối lượng trung bình

Cân lần lượt 30 con, ghi khối lượng lần lượt 30 con. Cộng tổng khối lượng 30 con. Lấy tổng khối lượng 30 con chia cho 30 (số con cân) được khối lượng trung bình của một con. Khối lượng trung bình xác đ ịnh được của 30 con là đại diện khối lượng trung bình của toàn bộ số cá nuôi trong lồng.

Tính khối lượng cá trong lồng

Khối lượng cá trong lồng được xác định khi tính được khối lượng trung bình của một con. Tổng khối lượng cá được xác định theo công thức:

Khối lượng cá trong lồng (kg) = (Khối lượng trung bình 01 con) x (Số con trong lồng).

Số con trong lồng được xác định căn cứ vào tỷ lệ sống thông qua xác định số cá chết đến thời điểm xác định thông qua ghi chép hoặc đếm số lượng cá trong lồng.

So sánh với lần đo trước

Định kỳ hàng tháng kiểm tra sinh trưởng cá giò. Chỉ tiêu cần quan tâm là đo khối lượng trung bình cá để đánh giá tốc độ tăng trưởng và là căn cứ để điều chỉnh lượng thức ăn cho cá. Khối lượng cá đo lần sau phải lớn hơn lần đo trước.

Trường hợp lần đo sau không tăng trưởng hoặc tăng trưởng chậm, cần
phải xem lại chất lượng thức ăn, kích cỡ mồi và lượng thức ăn cho ăn hàng
ngày để điều chỉnh.