Cơ sở khoa học mô hình Vịt – cá – lúa

Trong những năm gần đây, không chỉ ở Việt Nam mà ở các nước Đông Nam Á khác, phong trào làm kinh tế hộ gia đình với những mô hình khoa học đầy tính sáng tạo đang rất phát triển như mô hình VAC (Vườn – Ao – Chuồng), VACR (Vườn – Ao – Chuồng – Rừng), Vịt – Cá – Lúa… trong đó mô hình Vịt – Cá – Lúa ngày càng được bà con nông dân ưa chuộng hơn với những ưu điểm của nó.

Nội dung trong bài viết

Để giúp bà con hiểu đơn giản mà rõ ràng, đầy đủ về mô hình kết hợp Vịt – Cá – Lúa, chúng tôi giới thiệu sơ đồ dưới đây là thể hiện mối quan hệ giữa thu hoạch, chăn nuôi và sản xuất trong mô hình Vịt – Cá – Lúa:

mô hình Vịt - Cá - Lúa

Thứ nhất là mô hình này giúp giảm chi phí cho chăn nuôi và sản xuất tập trung cao do sử dụng được nguồn thức ăn sẵn có ở mỗi địa phương. Ngoài ra, chi phí chăn nuôi sẽ giảm nhiều vì vai trò bổ sung của những động vật nhai là sử dụng được những dư thừa và phế thải như phân, thức ăn thừa… có thể dùng làm thức ăn cho cá đem lại hiệu quả cao.

Vịt - Cá - Lúa

Vịt – Cá – Lúa

Thứ hai, nguồn thu nhập của người nông dân cũng được tăng lên nhờ việc bán các sản phẩm từ mô hình chăn nuôi Vịt – Cá – Lúa.

Thứ ba, mô hình này làm tăng tính chủ động cho người nuôi và tạo mối quan hệ sinh thái, làm giảm ô nhiễm môi trường và có lợi cho những sinh vật khác.

Việt Nam là nước nông nghiệp với diện tích trồng lúa nước rất lớn. Mặt khác, diện tích ao hồ để thả vịt và nuôi cá cũng vô cùng phong phú. Các ao, hồ ở nước ta còn chứa nguồn thức ăn tự nhiên đa dạng cho việc nuôi cá kết hợp với nuôi vịt ở mặt nước lớn. Thành phần thức ăn cụ thể trong nước gồm:

Mùn bã hữu cơ: Đây là nguồn thức ăn trực tiếp của cá. Trong môi trường hồ nước, mùn bã hữu cơ tồn tại ở một số dạng chính sau:

+ Mùn bã lơ lửng: Đây là mùn bã ở trạng thái đang phân huỷ để tạo thành các muôi dinh dưỡng. Mùn lơ lửng này là thức ăn trực tiếp của cá.

+ Mùn bã đã lắng chìm xuống đáy: mùn này đang phân huỷ để bổ sung muối dinh dưõng cho nước và là thức ăn cho một số loài cá đáy.


Phù du sinh vật: phù du sinh vật ở nước bao gồm phù du thực vật và phù du động vật. Phù du sính vật là nguồn thức ăn tự nhiên quan trọng nhất cho cá gồm bảy loại phù du thực vật là thanh tảo, tảo lục, tảo khảo, tảo giáp, tảo trần, tảo vàng, tảo vàng ánh và 4 loại phù du động vật là râu ngành, chân chèo, luân trùng và Naupius.

Động vật đáy: Các loài động vật thường sống ở đáy hồ như ấu trùng, muỗi…thường phân bố khác nhau ở những vùng cạn, sâu khác nhau.

Thực vật thuỷ tinh thượng đẳng: gồm một số loại rong như: rong đuôi chồn, rong tóc tiên, rong mái chèo…và các loại cỏ.

Sinh vật bám: Sinh vật bám (thực vật bám) thường sông bám trên các khe đá, cát, sỏi, rễ cây, thân cỏ…

Sau một thời gian áp dụng mô hình Vịt – Cá – Lúa vào thực tế, đã thu được những kết quả khả quan.

Mô hình này tổ chức nuôi vịt đẻ lai vịt siêu thịt, trong tháng đẻ thứ nhất kết hợp với nuôi cá hường, cá trôi, cá trê và cá chép theo số lượng ở bảng sau:

to chuc mo hinh nuoi vit de lai vit sieu thit

Bảng kết quả sinh sản của vịt. Kết quả của mô hình này được thể hiện ở bảng kết quả thu hoạch cá và kết quả sinh sản của vịt đẻ trứng trong 7 tháng.

Bảng kết quả sinh sản của vịt

Bảng kết quả sinh sản của vịt

Bảng kết quả sinh trưởng và thu hoạch cá

Bảng kết quả sinh trưởng và thu hoạch cá

Ý kiến của bạn