August 2019 02:23:28 PM

Làm chuồng nuôi nhốt thỏ

Hiện nay, nghề chăn nuôi thỏ ở nước ta vẫn chưa được chú trọng và phát triển rộng rãi. Mặc dù thỏ là một loại gia súc không tranh ăn lương thực với người, tận dụng được sản phẩm phụ nông nghiệp, sức lao động phụ trong gia đình, đầu tư ít vốn, phù hợp với điều kiện chăn nuôi gia đình ở nước ta.

Khác với chăn nuôi lợn, gà, vịt… (sử dụng 95­ – 100% thức ăn tinh), thỏ là một lại gia súc có khả năng sử dụng được nhiều thức ăn thô xanh trong khẩu phần. Trong chăn nuôi công nghiệp, tỷ lệ thô xanh trong khẩu phần ăn của thỏ (tính theo vật chất khô) là 50 – 55%, chất sơ trong khẩu phần 12­ – 14%. Trong chăn nuôi gia đình, tỷ lệ thô xanh trong khẩu phần của thỏ còn cao hơn nhiều tói 75 – 80%,thậm chí có gia đình sử dụng tới 85 – 90% cùng một ít thức ăn tinh tận dụng (bã chè, cơm nguội; sắn, lang củ.…)để nuôi và cũng đạt được kết quả tốt.

Chăn nuôi thỏ vốn đầu tư ban đầu không đáng kể, chuồng trại có thể tận dụng các vật liệu sẵn có rẻ tiền để làm, chi phí để mua con giống ban đầu so vói các gia súc khác rất ít và chỉ phải bỏ ra một lần đầu là có thể duy trì chăn nuôi liên tục được. Vòng đời của thỏ ngắn 3 – 3,5 tháng) nên thu hồi vốn nhanh, phù hợp với khả năng của nhiều gia đình.

Chăn nuôi thỏ có thể sử dụng được toàn bộ thời gian và sức lao động phụ chỉ cần nắm được kỹ thuật là có thể nuôi tốt được thỏ. Như vậy chăn nuôi thỏ cũng góp phần giải quyết công ăn việc làm trong gia đình.

Thỏ đẻ khỏe, phát triển nhanh, sản phẩm thỏ có giá trị trong tiêu dùng và xuất khẩu. Chăn nuôi thỏ có tác dụng hỗ trợ tốt cho việc thực hiện mô hình VAC trong kinh tế gia đình. Thỏ đẻ nhanh, một năm trung bình đẻ 6 – 7 lứa, mỗi lứa 6 – 7 con. Sau ba tháng nuôi trọng lượng xuất chuồng 1,7 – 2 kg, như vậy một thỏ mẹ nặng 2,8 – 3,5 kg, một năm có thể sản xuất ra 85 – 100 kg thịt thỏ.

Thịt thỏ giàu và cân đối dinh dưỡng hơn các loại thịt gia súc khác. Đạm cao: 21% (thịt bò 17%, thịt lợn 15%, gà 21%), mỡ thấp: 10% (gà 17%, bò 25%, lợn 29,5% , giàu chất khoáng : 1,2 % (bò 0,8%, lợn 0,6%). Ngoài ra thịt thỏ còn điều dưỡng được bệnh tim mạch, mà không có bệnh truyền nhiễm nào của thỏ lây sang người (Ph.Surdear và Remeff Pháp). Vì vậy thịt thỏ có giá trị xuất khẩu lớn: 1kg thịt thỏ hơi xuất khẩu giá: 1,44 đô la (Hung 1980) 9 – 12 Frang (Pháp 1983) cao hơn so với thịt bò, lợn và gà.

Lông da thỏ sau khi thuộc xong may thành mũ, áo hoặc làm đồ thủ công mỹ nghệ cũng có giá trị lớn trong tiêu dùng và xuất khẩu, ở Pháp một năm có 100 triệu tấn lông da thỏ trao đổi, giá trị thu từ lông da thỏ tăng thêm 30 – 35%

Ở Việt Nam hiện nay do số lượng có hạn nên thịt thỏ của chúng ta mới chỉ đủ tiêu dùng nội địa.

Nếu có nhiều thỏ ta có thể xuất khẩu được vì thị trường tiêu thụ rất sẵn.

Thỏ là một gia súc rất mẫn cảm với điều kiện ngoại cảnh, nên nó được dùng nhiều làm động vật thí nghiệm, động vật kiểm nghiệm thuốc và chế vacxin trong y học và thú y.

Ngoài những sản phẩm chính được sử dụng như trên thì phế phụ phẩm của nghề chăn nuôi thỏ như phân, nước tiểu, lòng ruột khi giết mổ cũng có giá trị lớn. Phân thỏ là một trong loại phân gia súc tốt nhất.

Ngoài việc sử dụng phân thỏ làm phân bón cho trồng trọt, nuôi cá, gần đây người ta còn sử dụng phân thỏ để làm thức ăn chăn nuôi giun và nó là một trong những loại thức ăn rất tốt cho giun. Từ giun ta có thể nuôi gà, vịt, ngan, cá, lươn (theo tài liệu của Công ty chế biến phế thải đô thị, thì 1 ha giun công nghiệp ổn định cho năng suất 200 tấn/ giun/ năm và hàm lượng protein của giun đất 66 – 70%)

Như vậy nuôi thỏ ở gia đình vừa tận dụng được phê phụ phẩm nông nghiệp, tận dụng được sức lao động phụ, vừa đỡ tốn lương thực lại cho ra một loại sẳn phẩm đặc biệt (thịt lông da) có giá trị tiêu dùng, y học, thú y và xuất khẩu. Ngoài ra sản phẩm phụ của nuôi thỏ lại góp phần tích cực tạo thế cân bằng cho trồng trọt và chăn nuôi theo công thức VAC trong kinh tế gia đình.

Vì thế với điều kiện khí hậu nhiệt đới ở nước ta, cây cỏ bốn mùa xanh tốt, lương thực còn rất khó khăn thì chăn nuôi thỏ trong gia đình sẽ mang lại hiệu quả kinh tế lớn, thực sự là ích nước lợi nhà. Tuy nhiên nghề chăn nuôi thỏ thành công, người chăn nuôi ngoài việc phải nắm được những hiểu biết cơ bản về: giống, sinh lý và kỹ thuật chăn nuôi thỏ trong gia đình thì điều quan trọng là phải nắm được kỹ thuật làm lồng chuồng cho thỏ.


Loài thỏ có bản năng đặc biệt là có thể tự bảo vệ mình với thiên nhiên và các động vật khác, do chúng được thuần hoá từ thỏ rừng sống hoang dã. Trong quá trình thuần hoá, con người đã nuôi nhốt chúng trong những lồng, chuồng để bảo vệ, quản lý và chăm sóc.

Lồng chuồng nuôi nhốt thỏ có thể tận dụng được những diện tích nhỏ như ngoài vườn, đầu nhà, dưới gốc cây hoặc gian nhà trống… Dù đặt ở vị trí nào đi nữa thì điều cần lưu ý là lồng, chuồng phải có mái che, đảm bảo không khí thông thoáng, sạch sẽ, chống được gió lùa, ấm về mùa đông, mát về mùa hè. Thiết kế sao cho thuận tiện trong việc vệ sinh quét dọn. Không đặt lồng thỏ trong chuồng lợn,chuồng gà vừa ngột ngạt hôi thối lại dễ nhiễm độc và là nguyên nhân chủ yếu lây lan mầm bệnh từ lợn gà sang như bệnh tụ huyết trùng.

Mô hình lồng chuồng

Nếu như thức ăn của thỏ đơn giản, dễ kiếm phù hợp với điều kiện ở các địa phương thì nguyên liệu dùng làm lồng chuồng thỏ lại thật phong phú. Nguyên liệu chủ yếu là tre, nứa, gỗ, hoặc tận dụng phế liệu sắt, thép…Khi làm cần đảm bảo một số yêu cầu kỹ thuật sau:

Dễ quét dọn, vệ sinh, sát trùng, tốn ít công khi cho ăn uống, chăm sóc hoặc bắt thỏ.

Thỏ không chui được lẫn đàn, ra ngoài, động vật khác không chui được vào lồng cắn thỏ đặc biệt là chuột.

Phải bền vững, chắc chắn. Những phần hay dơ bẩn, dễ mòn và hư hỏng như đáy lồng, lưới cỏ, máng uống… phải dễ tháo lắp và thay thế được.

Kích thước lồng chuồng: Phải phù hợp cho việc bắt thỏ, chăm sóc và quan sát trạng thái sức khỏe. Nếu làm lồng cao quá, vừa khó chăm sóc, vừa bị gió lùa từ dưới lên bụng thỏ vì vậy thỏ không yên tĩnh do sợ độ cao. Nếu làm ngăn lồng sâu và hẹp thì khó bắt thỏ, không đủ chỗ để gắn lưới cỏ, máng ăn vào thành lồng phía trước và khó quan sát khi chúng ăn, cũng như việc vệ sinh lồng chuồng. Quy cách lồng chuồng phù hợp nhất là ngăn lồng khôi hộp chữ nhật đặt ngang, thành lồng cao 40 – 50 cm, dài 90cm, sâu 60cm. Mỗi ngăn đó nên nhốt 5 – 6 con sau cai sữa vỗ béo hoặc hai con hậu bị giống hoặc một con thỏ giống sinh sản.

Nếu gia đình chật hẹp thì có thể tiết kiệm diện tích bằng cách làm lồng hai tầng, cửa mở ở phía trước, dưới đáy mỗi tầng nhất thiết phải có khay hứng phân.

Cấu trúc lồng chuồng thỏ một tầng, hai ngăn
Cấu trúc lồng chuồng thỏ một tầng, hai ngăn

Đáy lồng chuồng: Là một trong các chi tiết quan trọng nhất vì nó tiếp xúc trực tiếp đến thỏ, là điều kiện giữ vệ sinh để chống ô nhiễm lây lan mầm bệnh và gây bệnh. Vì vậy đáy lồng chuồng phải nhẵn, phẳng, êm, không để đầu đinh, môi buộc hoặc vật liệu làm nhô lên mặt đáy sẽ làm xây xát dà, loét gan bàn chân. Đáy lồng phải có khe hở, lỗ thoát phân, nước tiểu dễ dàng, ít thấm nước và tháo lắp được. 0 gia đình, tốt nhất là làm đáy bằng các thanh tre hoặc gỗ cứng vót nhẵn có bản rộng 1 – 1,5 cm, kết thành phên có khe hở 1,5 cm. Nếu đáy làm bằng lưới thép mắt cáo, ô vuông phải là loại dày 2 mm, lỗ lưới rộng 1,5 – 2cm. Đáy lưới phải có thêm bệ nằm bằng miếng gỗ mỏng nhẹ đặt vào nửa đáy phía trong để thỏ nằm yên tĩnh

Phên đáy lồng đặt vào khung đáy lồng
Phên đáy lồng đặt vào khung đáy lồng

Dụng cụ chuyên dùng

Máng thức ăn tinh: Có thể làm bằng các vật liệu khác nhau như sành sứ, xi măng, gỗ, tôn, sắt… Nếu làm bằng vật liệu nhẹ thì phải cớ móc hoặc dây buộc gá vào thành lồng phía trước để thỏ không làm lật đổ được. Kích thước máng ăn phù hợp là hình khối hộp chữ nhật dài 35 – 40 cm để đủ chỗ cho cả đàn cùng ăn, nhưng chỉ làm hẹp miệng khoảng 10 – 12 cm để thỏ không nằm vào máng ăn được sẽ gây mất vệ sinh, chiều cao của máng là 6-8 cm, miệng máng nên làm gờ hoặc uốn cong vào phía trong để tránh thỏ bới thức ăn ra ngoài.

Máng ăn bằng sành và đổ bằng xi măng
Máng ăn bằng sành và đổ bằng xi măng

Dụng cụ uống nước: Có thể làm bằng sành sứ hoặc đổ xi măng hình chậu cao 8 – 10 cm, miệng rộng 10 – 15 cm để thỏ không dẫm chân vào và không lật đổ được. Để giữ được nưốc uông vệ sinh có thể làm van nưóc bằng ống kim loại hoặc thuỷ tinh dày cắm vào nút chai, nút can dốc ngược, có giá đõ gắn vào thành lồng để thỏ hút liếm được nước. Hoặc làm khay nước có chai nước dốc ngược.

Rá thức ăn thô: Phải được thiết kế sao cho thỏ tự rút lá cỏ để ăn được, nhưng không cào bới vào đáy lồng hoặc không chui vào dẫm nát, làm bẩn thức ăn. Nên đặt rá thức ăn thô rã ngoài ngăn lồng, gắn vào một bên thành lồng phía trước. So le với vị trí đặt máng thức ăn tinh ở phía trong .

Các dụng cụ cho thỏ uống nước
Các dụng cụ cho thỏ uống nước

Ổ đẻ của thỏ phải đảm bảo ấm, kín gió, có bóng tối, mẹ vào cho con bú được dễ dàng, thoải mái và đặc biệt phải chống được chuột vào ăn thỏ con. Nên làm ổ đẻ bằng gỗ mỏng nhẹ hoặc cót ép dày được quét sơn phẳng nhẵn, có khung nẹp chắc chắn dễ quét dọn vệ sinh, sát trùng. Ổ đẻ là khối hộp chữ nhật có kích thước dài 50 cm, rộng 35 cm cao 20 cm. Mặt trên ổ đẻ được đóng kín cố định một nửa, còn nửa đầu kia làm cửa ra vào của thỏ có nắp đậy được bằng lưối kim loại hoặc phên tre thưa 1,5 cm, mở đóng dễ dàng.

ổ thỏ đẻ
ổ thỏ đẻ

Với ổ đẻ này, thỏ con dưới 15 ngày tuổi không nhảy ra ngoài được, làm giảm tỷ lệ chết do tác động ngoại cảnh.

Ý kiến mọi người cho bài viết này

Chưa có ý kiến nào cho bài viết Làm chuồng nuôi nhốt thỏ. Mọi người đang mong chờ đóng ý kiến của bạn.

Ý kiến của bạn