Đặc tính sinh học của gia cầm

Bộ lông và da

– Da và bộ lông bảo vệ gia cầm khỏi sự va chạm cơ học có thể gây thương tích, giúp cơ thể ổn định thân nhiệt, giúp gia cầm có thể bay và nhận biết cảm giác qua sự tiếp xúc.

– Lông có nguồn gốc từ lớp biểu bì -> giữ nhiệt cho cơ thể.

– Bộ lông gia cầm chiếm 4 – 9% trọng lượng cơ thể: lông phủ và lông ống.

cac bo phan tren co the ga

Lông ống: lông thô phủ cứng bên ngoài và lông cánh.

Lông nửa tơ và lông tơ: có ống lông nhỏ và các sợi lông tơ tỏa lên, bao phủ da, chủ yếu phần ức và trong cánh để giữ ấm cho vùng phổi.

Lông sợi: vùng cổ và rãi rác khắp cơ thể.

Lông gia cầm trống có màu sắc sặc sỡ hơn gia cầm mái.

Màu sắc lông do sắc tố melanin và lipocrom quyết định.

Tiền sắc tố melanin là melanogen khi bị oxy hóa sẽ cho ra các màu vàng như: vàng đất, vàng rỉ sắt, nâu hung, nâu và màu đen.

Sắc tố lipocrom thuộc nhóm sắc tố carotenoid cho màu sắc sặc sỡ hơn như: màu đỏ, màu vàng, xanh da trời và xanh biếc.

Lông trắng không chứa sắc tố.

Tình trạng bộ lông thể hiện tình trạng sức khỏe, sức sản xuất và mức độ dinh dưỡng của gia cầm.

Khi mới nở, gia cầm non phủ một lớp lông sợi tơ mịn, sau 2-3 tuần lớp lông này thay bằng lớp phủ thứ nhất và thứ hai “thời kỳ phát triển sinh dục.

Hormon tuyến giáp trạng tham gia điều khiển sự mọc lông cũng như sự thay lông trong quá trình sống

Sự thay lông

Gia cầm có nhu cầu thay lông thường kỳ, nhất là chim hoang dã thay lông  theo mùa “kết thúc cuối mùa thu để có bộ lông giữ ấm trong mùa đông giá lạnh.

Trong cn gà công nghiệp, tiểu khí hậu tương đối ổ định, nên khí hậu ít bị biến đổi nên đặc tính thay lông ít bị biến đổi theo.

Thay lông có thể từng phần hay toàn phần của cơ thể.

Khi thay lông xảy ra biến đổi sinh lý như: cơ quan thần kinh, nội tiết, tăng cường trao đổi chất, đặc biệt là trao đổi protein và khoáng chất.


cau tao long gia cam

Lông thay bắt đầu từ lông cổ, lông lưng và sau đó lông ở các vùng khác.

Sự  thay lông có mối quan hệ chặt chẽ với sức đẻ trứng của gia cầm. Những gà mái thay lông sớm, thời gian thay lông kéo dài thì năng suất trứng thấp hơn và ngược lại. Trong cn gà công nghiệp, người ta có thể điều khiển quá trình thay lông, rút ngắn thời gian thay lông để gà mái nhanh chóng đẻ lại.

Những yếu tố gây stress: thay đổi đột  ngột điều kiện nuôi dưỡng, và chăm sóc (đói ăn, khát nước, nhiệt độ quá nóng hay quá lạnh, tình trạng bệnh) đều có thể gây thay lông trước thời hạn.

Da của gia cầm bao bọc cơ thể và có vai trò trò trao đổi nhiệt giữa thể với môi trường bên ngoài đặc biệt quan trọng ở gia cầm non.

Da gia cầm mỏng, nghèo các tuyến dưới da, không có tuyến mồ hôi, duy nhất chỉ có tuyến phao câu.

Da của gia cầm có hai thành phần chính: lớp biểu bì với lớp tế bào hình trụ cùng với lớp mô liên kết mỏng và sợi collagen tạo thành lớp da ngoài cùng bền chắc, nghèo mạch máu và hầu như không có tuyến.

Dưới lớp biểu bì là lớp mô mỏng gần giống như mô mỡ, chứa nhiều mạch máu và đầu dây thần kinh.

Mỏ, móng chân và vảy của da chân có nguồn gốc từ lớp biểu bì.

Mồng, tích là sản phẩm của da, có chức năng như da.

Màu vàng của da và da chân gia cầm quyết định bởi sắc tố carotenoid, xanthophyl nằm trong lớp mỡ dưới da làm tăng phẩm chất thịt của gia cầm.

Thức ăn chứa nhiều  carotenoid như bắp vàng, bột cỏ, bột lá, tảo,v…

cac dang mau ga

Mồng gà

Mồng, tích phát triển là dấu hiệu của đặc tính sinh dục thứ cấp, do hormon sinh dục điều khiển.

Tình trạng phát triển và màu sắc của mồng và tích cho ta biết năng suất trứng của gà mái, tính hăng của gà trống.

Mồng gà có nhiều hình dạng: mồng đơn, mồng hoa hồng, mồng đậu, mồng dâu.

Trong những ngày đầu mới nở, lớp biểu bì chưa có lớp sừng trên bề mặt, lớp lông tơ chưa có nang lông sâu, sự trao đổi nhiệt giữa cơ thể và môi trường mạnh mẽ, sự thải nhiệt xảy ra trên toàn bề mặt da, khi đó thân nhiệt gà con 38,7 – 38,9ºC.

Thân nhiệt của gia cầm ổn định ở mức 40,6 – 41,6ºC.

Hệ xương và cơ

Xương gia cầm chắc, nhẹ và xốp làm khung cho cơ bám vào để tạo hình dáng cơ thể.

Bộ xương cấu tạo bởi xương đầu, xương sườn, cột sống, xương cánh và chân.


Trọng lượng xương chiếm 7 – 8% trọng lượng cơ thể.

Xương có những xoang xốp chứa đầy không khí với chức năng dự trữ không khí cung cấp cho các túi khí.

Mô xương cấu tạo bởi tế bào xương và gian bào, vỏ xương là lớp mô chứa mạch máu, thần kinh và lớp tế bào đặc biệt có chức năng tạo xương.

Xương chủ yếu :Ca, P, Mg và một số khoáng khác.

Xương đầu: phần sọ chứa bộ não, phần xương mặt và xương hàm tạo thành mỏ đã được sừng hóa.

Xương sống gia cầm hình chữ S nối liền đầu, thân và đuôi. Các đốt sống phân chia thành các phần nhỏ: đốt sống cổ, đốt sống ngực, lưng, hông và đuôi.

Đốt sống cổ và đuôi là rời nên gà cử động được hai phần đó, còn đốt sống ngực và lưng liền nhau nên không cử động được.

Xương sườn: một đầu gắn với đốt sống ngực, còn một đầu gắn với xương lưỡi hái: hai xương rất phát triển ở gà và ngỗng. Xương lưỡi hái là chỗ bám của phần cơ ức rất phát triển và là phần thịt có giá trị cao.

Xương cánh xương chân: xương ống và xương dẹp liên kết với nhau cân đối và chắc chắn. Xương gia cầm có mối liên hệ với cơ quan hô hấp. Nhiều xương xốp chứa không khí dự trữ để khi gia cầm lặn dưới nước hoặc bay trên cao, không khí dự trữ trong xương làm giảm trọng lượng cơ thể.

Bộ xương của gia cầm mái còn là nơi dự trữ Ca để tạo vỏ trứng. Xương dài có những gai xốp trong tủy xương. Dưới tác động của hoormon sinh dục, các gai này phát triển và chứa đầy Ca dự trữ cho quá trình tạo vỏ trứng. Gai phát triển nhanh nhưng nếu khẩu phần nghèo Ca, gia cầm mái huy động đến 40% Ca từ xương khi đẻ 6 quả trứng đầu tiên.

Hệ cơ của gia cầm chiếm tỷ lệ tương đối lớn so với các tổ chức khác trong cơ thể gia cầm.

Lương cơ của gà chiếm 42-45%, của vịt chiếm 40-43%, ngỗng 48-50,5% và gà tây 52-54%.

Tỷ lệ này thay đổi tùy thuộc vào lứa tuổi, giới tính, giống, hướng sản xuất và điều kiện nuôi dưỡng gia cầm.

Gà lớn có tỷ lệ cơ cao hơn gà con, con trống có tỷ lệ cơ cao hơn con mái, giống nặng cân có tỷ lệ cơ cao hơn giống nhẹ cân, giống hướng chuyên thịt cơ phát triển nhanh và nhiều hơn giống chuyên trứng và kiêm dụng

nCơ vân bám vào xương chiếm tỷ lệ cao nhất và đó cũng là phần cơ có giá trị cao nhất của gia cầm. Cơ trơn có trong các cơ quan như ống tiêu hóa, mạch máu..v..mà những cơ quan này co bóp không chủ động.

Cơ tim ở gia cầm tương đối phát triển nên tim có tỷ lệ lớn so với trọng lượng cơ thể.

Cơ của gia cầm chứa 75% nước và 25% vật chất khô. Vật chất khô chứa 80-90% protein, 1-1,2% chất khoáng và phần còn lại là lipit và hydratcarbon.

Cơ của gia cầm chứa 3 loại cơ: cơ đỏ, cơ trắng và sợi cơ trung gian giữa cơ đỏ và cơ trắng.

Cơ chân gia cầm nói chung đều cấu tạo từ những sợi cơ đỏ, cơ ức của gà từ sợi cơ trắng. Những loại gia cầm bay như bồ câu cho thịt đỏ hơn gia cầm không bay như gà.

Ý kiến của bạn