Bệnh đậu dê

Nguyên nhân

– Do virút gây ra.

– Virút có sức đề kháng rất cao với các tác nhân hóa lý, chúng có thể tồn tại nhiều tháng trong những khu vực bị nhiễm bệnh.

– Trong tự nhiên, dê và cừu là những động vật cảm nhiễm nhất và gây ra những bệnh tích lâm sàng điển hình.

– Các giống dê và cừu địa phương có sức đề kháng cao do vậy khi bị bệnh thường bị nhẹ và ít thể hiện bệnh tích.

– Các giống nhập ngoại và những đàn do di chuyển gây ra những yếu tố stress cho can vật, kết hợp với sự trộn đàn làm tăng tỷ lệ lây nhiễm và tỷ lệ chết cũng cao hơn.

 Triệu chứng

-Thời gian ủ bệnh từ 8 – 13 ngày.

– Đầu tiên, con vật sốt trên 400C, kéo dài 2 – 5 ngày.

– Con vật bị phát ban, xung huyết, xuất hiện những nốt tròn nhỏ dễ quan sát nhất là những vùng da mỏng không có lông. Sau đó các nốt phát ban hình thành những nốt sần, căng cứng có đường kính từ 0,5 – 1 cm có khi toàn cơ thể, có khi chỉ xuất hiện ở một số khu vực như nách, háng, bẹn.

Các nốt sần có thể phát triển thành mụn nước chứa đầy dịch bên trong, nhưng rất hiếm khi xảy ra.

– Một số giống dê còn xuất hiện một thể bệnh là thể xuất huyết. Khi đó xuất hiện quá nhiều nốt đậu, các nốt này kết với nhau thành một mảng bao phủ toàn cơ thể làm con vật rất dễ chết

Nốt đậu mọc ở vùng đầu dê
Nốt đậu mọc ở vùng đầu dê

– Sau 24 giờ xuật hiện các nốt đậu điển hình, con vật bắt đầu chảy nước mũi, viêm kết mạc, sưng hạch lympho.

– Nếu xuất hiện các nốt đậu ở mắt, gây viêm mí mắt ác liệt.

– Khi các nốt đậu xuất hiện trên màng nhầy của mắt, mũi gây ra các vết loét và hình thành các chất nhớt như mủ.

– Chảy nước rãi ở mồm và hậu môn.

– Bao quy đầu và âm đạo bị hoại tử.

– Thở khó do con vật bị sưng hạch hầu làm tăng áp lực ở đường hô hấp trên kết hợp với những bệnh tích ở phổi.

– Thường con vật bị chết trong các ca bệnh cấp tính.

– Nếu không bị chết, các nốt đậu bị hoại tử do thiếu máu cục bộ do bị tắc mạch, nghẽn mạch ở phần đáy của các nốt đậu..

– Sau 5 – 10 ngày các nốt đậu hình thành vẩy, vẩy tồn tại đến 6 tuần sau đó bong đi để lại những sẹo nhỏ.

– Những bệnh tích ở da dễ bị tổn thương do sự tấn công của côn trùng.


Dê chết do mắc bệnh
Dê chết do mắc bệnh

– Giai đoạn thứ hai của bệnh thường là viêm phổi. Con vật khó thở, nhịp thở có thể đạt 90 lần/ phút.

– Hiện tượng xảy thai đối với gia súc cái mang thai có xảy ra  nhưng ít khi gặp.

– Con vật mệt mỏi, chán ăn, gầy mòn. Có dấu hiệu thần kinh nhưng không điển hình với bệnh đậu dê và cừu.

– Nếu kế phát các bệnh truyền nhiễm khác, bệnh tiến triển càng khốc liệt hơn.

– Những dê và cừu dưới 1 tháng tuổi khi nhiễm bệnh thường thể hiện những triệu chứng khốc liệt và điển hình nhất của bệnh do vậy tỷ lệ chết thường rất cao.

Bệnh tích

– Khi kiểm tra những con vật bị chết trong giai đoạn cấp tính : Bệnh tích trên da ít thấy hơn so với những con sống. Màng nhầy bị hoại tử. Tất cả các hạch lympho toàn cơ thể căng phồng, phù nề. Tìm thấy những nốt đậu hoại tử trên màng nhầy dạ múi khế, thỉnh thoảng còn phát hiện ra trên thành dạ cỏ, ống tiêu hóa lớn, lưỡi, vòm miệng, thực quản và khí quản.

– Trên bề mặt thận, gan đôi khi quan sát thấy những vùng bị tái xám đi có đường kính khoảng 2 cm, bệnh tích này cũng thấy xuất hiện ở dịch hoàn.

– Bệnh tích điển hình nhất là ở phổi : Những nốt đậu điển hình và đồng nhất phân bố đều trên toàn bộ phổi. Những tổn thương sớm làm tắc nghẽn mạch máu cục bộ, sau đó bị phù và cuối cùng hình thành những nốt màu trắng.

Viêm phổi
Viêm phổi

– Viêm hạch hầu, hạch hầu có thể sưng lớn gấp 5 lần so với bình thường, xung huyết, xuất huyết và bị phù.

– Nốt đậu cũng có mặt ở âm hộ, bao quy đầu, dịch hoàn, vú và đầu vú.

Chẩn đoán bệnh

– Dựa vào những triệu chứng điển hình : Những nốt đậu trên toàn bộ da, sốt dai dẳng (liên tục), viêm hạch lympho và thường viêm phổi. Tỷ lệ chết có thể đến 50% ở gia sức trưởng thành và đến 95% ở cừu và gia súc non dưới 1 tháng tuổi.

– Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh :

+ Bệnh lưỡi xanh : Động vật bị suy nhược, viêm kết mạc không có mủ. Xung quang miệng sưng, xung huyết và phù. Động vật mang thai, dễ bị sẩy thai và thai bị biến dạng.

+ Bệnh dịch tả loài nhai lại nhỏ : Viêm kết mạc, viêm mũi, vòm miệng. Ở những vùng đó xuất hiện những nốt màu trắng, nhô cao và hoại tử. Triệu chứng điển hình là viêm phổi, tiêu chảy và tỷ lệ chết đến 90% ở cừu và gia súc non dưới 1 tháng tuổi.

+ Bệnh viêm da có mủ dễ lây qua tiếp xúc : Bệnh này gây ảnh hưởng nghiêm trọng nhất ở cừu và gia súc non. Bệnh tích phát triển nhanh ở xung quanh miệng và ở mắt. Gia súc cái còn phát triển nhanh bệnh tích ở đầu vú. Tỷ lệ chết có thể đến 50%.

+ Vết thương do côn trùng cắn : Những vết thương do côn trùng cắn có thể gây viêm cục bộ, phù và ngứa. Ít khi bị côn trùng cắn vào đến lớp màng nhầy.

+ Viêm phổi do ký sinh trùng : Con vật bị suy nhược khi xuất hiện những triệu trứng khốc liệt ở phổi do sự phát triển quá lớn của ký sinh trùng. Trong trường hợp này không có bệnh tích ở trên da.

+ Bệnh ghẻ : Cũng xuất hiện những vẩy ghẻ trên da giống như nốt đậu nhưng con vật ngứa và cào sước, hiện tượng này không thấy trong bệnh đậu

Biện pháp phòng, trị bệnh

a. Phòng bệnh

– Kiểm soát dịch bệnh :

+ Để ngăn chặn dịch bệnh xảy ra, biện pháp hiệu quả nhất làm giảm dịch đậu dê và cừu là sử dụng vắc xin.


+ Hạn chế sự di chuyển động vật và sản phẩm động vật (thịt, lông, tóc,…).

+ Khi xác định có một động vật bị bệnh, tiến hành bao vây ổ dịch, tiêu hủy những động vật bị bệnh, tẩy uế sát trùng khu vực chuồng nuôi và bãi chăn thả. Biện pháp tối ưu nhất là tiêm phòng tất cả những động vật dễ nhiễm bệnh ở khu vực xung quanh đàn bị bệnh.

+ Khi dịch lây lan ở trong một khu vực lớn, biện pháp hiệu quả nhất vẫn là tiêm phòng bằng vắc xin. Tuy nhiên khi đó phải tính đến việc tiêu hủy những động vật đã bị nhiễm bệnh và dọn sạch tẩy uế toàn khu vực như dụng cụ, nhà xưởng, trang thiết bị,…

– Phòng bệnh bằng văc-xin :

+ Chỉ định phòng bệnh : Chỉ sử dụng cho dê từ 1 tháng tuổi trở lên.

+ Liều lượng sử dụng. Mỗi dê, cừu được tiêm 1 liều = 1 ml theo đường tiêm dưới da hoặc tiêm bắp, một năm tiêm hai lần.

Văc-xin vô hoạt đậu dê
Văc-xin vô hoạt đậu dê

+ Cách pha vắc-xin :

 Vắc-xin Đậu dê là vắc-xin vô hoạt dạng lỏng có chất bổ trợ là keo phèn. Do vậy trước khi tiêm phải lắc đều vắc-xin.

Thao tác : Dùng 2 đầu ngón tay (ngón trỏ và ngón cái) cầm vào đầu lọ và đáy lọ vắc-xin đảo ngược lọ vắc-xin sau đó đảo lại, làm đi làm lại khoảng 10 lần cho đến khi keo phèn tan hết trong lọ vắc-xin. Yêu cầu thao tác phải nhẹ nhàng tránh hiện tượng sủi bọt trong lọ vắc-xin.

Khi vắc-xin tan đều, dùng bơm tiêm hút vắc-xin ra và tiêm cho dê hoặc cừu. Khi hút vắc-xin lần tiếp theo cũng phải làm tan đều vắc-xin.

b. Trị bệnh

– Bệnh đậu dê không thể điều trị, chỉ dùng kháng sinh để chống kế phát vi trùng. Thực hiện tốt công tác vệ sinh, tẩy uế chuồng trại, khu vực chăn nuôi để giảm truyền lây bệnh.

– Có thể dùng  thuốc sát trùng Navetkon-s và Benkocid Sát trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi. Đặc biệt Navetkon S có thể phun trực tiếp trên cơ thể dê.

– Xử lý nốt đậu bằng cách: Bôi các dung dịch sát trùng lên các mụn đậu: Thường dùng dung dịch Blue Methylen 1% hoặc dung dịch I ốt 1%. Các dung dịch này đều diệt được siêu vi trùng và vi khuẩn ở mụn đậu, làm cho mụn đậu đóng vảy nhanh, bong ra và thành sẹo nhanh.

– Khi có hiện tượng viêm nhiễm do vi khuẩn ở mũi, miệng và viêm khí quản thì điều trị bằng kháng sinh như:

+  Ampicilin: dùng liều 30g/kg thể trọng phối hợp với Kamamycin: dùng liều 20mg/kg thể trọng, dùng thuốc liên tục 5-6 ngày, kết hợp với sử dụng các loại thuốc trợ sức: Vitamin B1,Vitamin C và cafein.

+ Ngoài ra có thể dùng các loại thuốc sau để chống nhiếm khuẩn:

Navet- Amoxy: Liều tiêm: 1ml/10kg trọng lượng, 2 ngày 1 lần, liên tục từ 3-5 ngày.

Navet-oxytetra 100: Liều tiêm: 1ml/10kg trọng lượng, ngày 1 lần, liên tục từ 3-5 ngày.

– Trong thời gian điều trị giữ chuồng khô, sạch sẽ và ấm vào mùa đông.

Ý kiến mọi người cho bài viết này

Chưa có ý kiến nào cho bài viết Bệnh đậu dê. Mọi người đang mong chờ đóng ý kiến của bạn.

Ý kiến của bạn