Cây lim xanh - P2

Hình đại diện Cây lim xanh - P2
Hình đại diện Cây lim xanh - P2

Công dụng
Cây lim xanh được coi là một cây giàu tanin, vỏ cây chứa khoảng 15,21% tanin. Trong thời Pháp thuộc đã có xí nghiệp sản xuất tanin ở Yên Cát (Thanh Hoá) với nguyên liệu chủ yếu là vỏ lim. Sau này vì rừng lim ở vùng Tây Thanh hoá bị suy thoái, không còn vỏ để cung cấp nên xí nghiệp thiếu nguyên liệu và đã đóng cửa.

Gỗ lim có dác lõi phân biệt, dác màu xám nhạt hay vàng nâu; lõi khi mới chặt màu xanh vàng sau chuyển màu nâu sẫm, rất cứng, thuộc loại tứ thiết; một trong những loại gỗ tốt nhất của Việt Nam. Gỗ có tỷ trọng 0,94; lực kéo ngang thớ 29 kg/cm2; nén dọc thớ 608 kg/cm2, oằn 1,546 kg/cm2; hệ số co rút 0,47-0,61. Gỗ lõi không bị mối mọt, rất bền nên được dùng trong các công trình xây dựng lâu dài như đền chùa, nhà thờ…, hoặc dùng đóng đồ đạc, làm cửa, ván
sàn, tà vẹt và đồ trang trí trong nhà. Nhưng theo kinh nghiệm nhân dân, gỗ lim khá độc nên thường không dùng làm giường ngủ vì sẽ làm đau mình mẩy. Nhiều nguồn tin cho rằng, vùng rừng lim có khí hậu và nguồn nước suối độc (Cần kiểm tra lại các thông tin trên).

Rễ cây có nốt sần cố định đạm làm tăng độ phì của đất. Khi cây bị chết, rễ mục là giá thể tốt nhất cho loài nấm linh chi (Ganoderma lucida), một loài nấm làm thuốc bổ rất quí phát triển.


Cây có tán lá rậm nên là đối tượng rất thích hợp trồng ở các khu rừng phòng hộ, bảo vệ đầu nguồn nước.

Kỹ thuật nhân giống, gây trồng
Nhân giống:
Quả lim chín vào tháng 12, tháng 1; lúc đó vỏ quả chuyển từ màu xanh sang màu nâu sẫm là có thể thu hoạch để làm giống. Thường thu khi quả còn trên cây hoặc nhặt các quả rụng xuống đất; mang về phơi vài nắng rồi đập lấy hạt. Hạt có vỏ rất cứng, đem phơi khô rồi cất trữ bình thường, sau 1-2 năm hạt vần giữ được tỷ lệ nảy mầm cao.
Xử lý hạt: ngâm hạt trong nước ấm 60-80oC trong 10-12 giờ, sau đó rửa sạch hết lớp keo quanh hạt và ngâm vào nước lã 14-16 giò rồi đem gieo. Có thể gieo trong bầu có đường kính 8-10cm, chiều cao 12-15cm. Cũng có thể gieo trực tiếp trên luống, sau đem trồng bằng cách xắn, tạo bầu đất.
Tiêu chuẩn cây con đem trồng: 7-12 tháng tuổi, chiều cao 25-30cm, đường kính gốc 0,6-0,8cm.
Trồng và chăm sóc:
Đất trồng: Trồng lim xanh trên đất rừng nghèo, còn giữ được tính chất đất rừng, đất sau nương rãy, các loại đất feralít trên đá mác ma kiềm và trung tính, đá sét và đá biến chất, đá mác ma acid, đá cát hoặc trên đất dốc tụ.
Xử lý thực bì: những nơi đất rừng nghèo, cây bụi, phát rạch rộng 2-3m, băng chừa rộng 5-10m. Cự ly cây cách cây 3m, hàng cách hàng 7m hoặc 12m. Mật độ trồng 280-500 cây/ha.
Trong băng chừa phải chặt hết các cây gỗ có chiều cao trên 15m.
Kích thước hố: 30x30x30cm hoặc 40x40x40cm.
Mùa trồng: vụ xuân trồng từ tháng 2 đến tháng 4; vụ thu trồng từ tháng 7 đến tháng 9.
Nếu trồng thẳng bằng hạt, mỗi hố gieo 3-4 hạt, lấp đất dày 1-1,5cm. Nếu trồng bằng cây
con, giữ lại cây che bóng trong băng chừa, đảm bảo độ che 50% ánh sáng.
Chăm sóc, nuôi dưỡng:
Giai đoạn đầu chống dây leo, cỏdại xâm lấn, nhưng không đểcây con bị phơi trống, chỉ loại bỏ những cây che cớm hoặc chen lấn cây. Cần phải chừa lại các cây bụi để giữ ẩm và che bớt áng sáng cho cây trong mùa hè đầu tiên.
Năm đầu chăm sóc 2 lần: Phát cục bộ quanh gốc cây với đường kính 1m. Xới, vun gốc, đường kính 60-80cm.
Năm thứ hai: phát chăm sóc 2 lần, nhằm chống dây leo, cỏ dại, cây bụi xâm lấn.
Cuối năm thú 3, lim xanh có thể đạt chiều cao 1-1,7m và có khả năng cạnh tranh với các loài cây khác. Phải chặt bỏ các loài cây chèn lấn cây lim xanh con.