LIÊN HỆ QUẢNG CÁO: 0989.467.685 - info@caytrongvatnuoi.com

Đặc điểm sinh vật học của rễ chè

Chỉnh sửa lúc 09/10/2018

Là loại cây lâu năm, cây chè phải sống trên một mảnh đất cố định trong nhiều năm, do đó việc nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh trưởng, phát triển của bộ rễ là rất quan trọng tạo cơ sở cho việc chọn đất, làm đất cũng như các biện pháp kỹ thuật canh tác khác sao cho rễ chè sinh trưởng, phát triển tốt nhất, rễ chè có phát triển tốt là cơ sở cho bộ phận trên mặt đất phát triển tốt.

Rễ chè

Rễ chè

Tuy nhiên, các nghiên cứu về rễ thường khó khăn, tốn kém mà độ chính xác thường không được cao lắm.

Trong tự nhiên, hệ rễ cây chè hạt gồm có:

– Rễ trụ (còn gọi là rễ cọc, rễ cái) ăn rất sâu, có thể ăn sâu đến 2 – 3m, nhưng thường rễ trụ chỉ phân bố ở 1m đất mặt, ít khi có các trường hợp rễ trụ ăn sâu hơn 1,5m hoặc phân bố cạn hơn 20 – 30cm.

– Rễ bên và rễ hấp thu, chủ yếu phân bố ở tầng đất mặt.

Đối với cây chè cành, do rễ được hình thành từ mô sẹo của cành giâm nên cây chè cành chủ yếu có rễ bên và rễ hấp thu phân bố ở tầng đất mặt, do đó khả năng chịu hạn của chè cành thấp hơn chè hạt nhiều. Tuy nhiên cũng có quan điểm cho rằng, về lâu dài, có một rễ bên phát triển ưu thế hơn các rễ khác và ăn sâu xuống đất đóng vai trò của rễ trụ.

Sự phát triển của bộ rễ chè phụ thuộc vào phương thức gieo trồng. g: gốc; r: rễ. 1. khóm 3 cây; 2. hàng kép; 3. hàng đơn

Sự phát triển của bộ rễ chè phụ thuộc vào phương thức gieo trồng. g: gốc; r: rễ. 1. khóm 3 cây; 2. hàng kép; 3. hàng đơn

Các kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ phát triển của rễ chè (theo chiều sâu và chiều rộng) bị chi phối nhiều bởi tính chất và đặc điểm của đất: đất xốp hay nén chặt, mực thủy cấp cao hay thấp; giống, tuổi cây; chế độ canh tác, cách bố trí cây trồng, chế độ dinh dưỡng (nhất là đạm).

Rễ chè thích hợp với môi trường đất chua, trong môi trường kiềm rễ chè bị hại và ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của cây. Dù canxi hiện diện rất nhiều trong cây chè: mút rễ, ngọn cây, là thành phần của màng tế bào, trong tế bào cương mô… nhưng thường người ta không bón vôi cho cây chè và chỉ tiến hành bón vôi khi pH đất < 4,0. Rễ chè cần môi trường đất chua để hòa tan một số các nguyên tố hiếm và vi lượng cần thiết cho cây chè.

Các kết quả phân tích cho thấy, hàm lượng Al3+ trong lá chè là 1.500ppm và hàm lượng Al2O3 và Fe2O3 trong đất thích hợp cho cây chè sinh trưởng phát triển tốt lần lượt là 1,00 – 2,12mg/100g đất và 0,36 – 0,86mg/100g đất.

Đọc thêm  Kỹ thuật trồng húng chanh

Các kết quả nghiên cứu cho thấy, CEC của dịch tế bào tốt nhất khi pH môi trường là 5,0 và yếu dần khi pH tăng lên. Khi pH môi trường đạt 5,7 thì CEC của dịch tế bào giảm xuống còn rất thấp.

Đặc điểm của quá trình sinh trưởng và phát triển của hệ rễ chè hạt:


– Khi hạt mới nảy mầm, rễ trụ phát triển rất nhanh, khi cây được 3 – 5 tháng tuổi, rễ trụ phát triển chậm lại, nhường cho rễ bên phát triển mạnh.

– Trong giai đoạn cây chè còn nhỏ, rễ trụ luôn luôn phát triển dài hơn phần thân trên mặt đất, khi cây chè được 2, 3 tuổi thì tốc độ sinh trưởng giữa phần thân trên mặt đất và phần rễ dưới mặt đất mới cân bằng. Trong thời kỳ này rễ bên và rễ trụ rất phát triển, tốc độ lớn lên và phân cấp của chúng cũng rất nhanh, đặc điểm này có quan hệ rất lớn đến kỹ thuật làm đất trước khi trồng mới: chuẩn bị đất kỹ, làm đất tơi, xốp. Tuy nhiên cũng có nhiều quan điểm khác về khả năng phát triển của rễ cây trồng nói chung và vấn đề làm đất tối thiểu, chống xói mòn.

* Sự phát triển của bộ rễ dưới mặt đất và phần thân trên mặt đất có hiện tượng xen kẽ nhau: khi phân thân lá phát triển mạnh thì bộ rễ phát triển chậm lại và ngược lại, khi phần thân trên mặt đất ngưng phát triển thì phần rễ dưới mặt đất phát triển mạnh. Đây là một đặc điểm rất quan trọng, có nhiều ứng dụng trong thực tế sản xuất để kéo dài thời gian thu hoạch búp, nâng cao năng suất (có thể sử dụng hỗn hợp 200ml GA3 + 20ml BA để giảm giai đoạn phát triển rễ, kéo dài giai đoạn phát triển phần thân trên mặt đất). Tuy nhiên đặc điểm này còn thay đổi tùy theo điều kiện khí hậu, đất đai, chế độ canh tác, thu hoạch. Trong điều kiện của Chiết Giang, Trung Quốc, bình quân mỗi năm có 3 – 4 đợt sinh trưởng xen kẽ nhau giữa bộ rễ và phần thân trên mặt đất.

Hạt chè được bao bên ngoài là lớp vỏ sành; lớp vỏ sành do 6 – 7 lớp thạch bào tạo thành. Khi hạt còn non vỏ sành có màu nâu phớt đỏ, khi hạt chín, màu chuyển dần sang đen. Trong lớp vỏ sành là lớp vỏ lụa mỏng, màu nâu, có nhiều gân, có tác dụng vận chuyển nước và dinh dưỡng nuôi hạt. Như vậy hạt chè không có lớp sáp bao bọc, do đó rất dễ mất nước, gây hiện tượng long óc, làm hạt không nảy mầm được

Hạt chè không có nội nhủ, lá mầm của hạt chè rất phát triển, chiếm 3/4 trọng lượng hạt. Lá mầm chứa phần lớn các chất dinh dưỡng dự trữ cần thiết cho hạt nảy mầm.

Đọc thêm  Vườn ươm cành chè giống

Theo Khupera và Bakhơtatze, thành phần chính của hạt chè gồm: dầu (22,9%), saponin (9,1%), albumin (8,5%), tinh bột (32,5%), glucid khác (19,9%), cellulose (3,8%), muối khoáng (3,3%).

Do hàm lượng dầu trong hạt chè cao nên cần phải thận trọng khi bảo quản, tránh để hạt mất sức nảy mầm (dầu dễ bị oxy hóa, sẽ ảnh hưởng đến mầm hoặc dưới tác động của nắng gắt, dầu sôi lên, luộc chín nội nhủ). Trước khi đưa hạt đi trồng cần phải kiểm tra tỷ lệ nảy mầm. Hàm lượng dầu trong hạt thay đổi tùy giống, vùng, hàm lượng dầu trong hạt chè ở một số vùng như sau:

+ Ở Ấn Độ                             43 – 45%

+ Ở Trung Quốc                    30 – 35%

+ Ở Nhật Bản                        24 – 26%

+ Ở Gruzia                             36%

Thành phần acid béo trong dầu hạt chè (Nakabayashi, 1991)

Thành phần acid béo trong dầu hạt chè (Nakabayashi, 1991)

Bạn có muốn nhận nội dung tương tự Cây lấy lá qua email không?