LIÊN HỆ QUẢNG CÁO: 0989.467.685 - info@caytrongvatnuoi.com

Đặc điểm sinh vật học của lá chè

Chỉnh sửa lúc 08/10/2018

Lá chè là lá đơn, nguyên gồm một phiến lá và một cuống lá. Mép lá thường có răng cưa; hình dạng, số lượng và mật độ răng cưa ở mép lá thay đổi tùy giống (là một chỉ tiêu nhận diện giống). Gân lá thường nổi rõ, các gân chính thường không phát triển hết ra tới mép lá mà nối lại với nhau ở gần mép lá. Số đôi gân chính trên lá chè là chỉ tiêu phân biệt các thứ, giống chè.

Lá chè mọc cách, mỗi lóng mang một lá, tùy theo lóng dài hay ngắn mà lá phân bố thưa hay dày. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng lóng chè dài, lá to là biểu hiện cho thứ chè có năng suất cao. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng kết luận trên là chưa chặc chẽ: năng suất của cây trồng không chỉ phụ thuộc vào kích thước lá, mà thế lá, hiệu suất quang hợp của cây cũng đóng vai trò quan trọng

Lá chè

Lá chè

Hình dạng và kích thước lá biến động rất lớn tùy giống, tuổi cây, loại lá, vị trí lá và điều kiện ngoại cảnh. Dựa vào hình dạng, cấu trúc và chức năng của các loại lá, người ta chia ra ba loại lá: lá vẩy ốc, lá cá và lá thật.

Hình dạng và kích thước của các lá trên một cành chè

Hình dạng và kích thước của các lá trên một cành chè

Lá vảy ốc

Lá vảy ốc có dạng vảy rất nhỏ, màu nâu, cứng. Lá vảy ốc là bộ phận bảo vệ điểm sinh trưởng của mầm khi mầm ở trạng thái ngủ. Số lượng lá vảy ốc bao quanh mỗi mầm thay đổi tùy loại mầm, tùy mùa: mùa hè, thường mầm được bảo vệ bởi 1 – 2 lá vảy ốc, nhưng trong mùa đông, mầm thường được bảo vệ bởi 2 – 4 lá vảy ốc. Số lá vảy ốc bảo vệ mầm ngủ nhiều hơn so với mầm đỉnh hay mầm nách. Khi mầm phát động, hình thành búp lá vảy ốc thường rụng.

Hình dạng và vị trí một số loại lá trên cành chè

Hình dạng và vị trí một số loại lá trên cành chè

Lá cá

Lá cá là lá thật phát triển không hoàn toàn. Lá cá có rất nhiều dạng (dị hình hoặc hơi tròn, không có hoặc có rất ít răng cưa ở mép lá, kích thước thường nhỏ hơn lá thật). Quan sát hình thái giải phẩu, người ta thấy lá cá có lớp tế bào mô dậu và mô khuyết ít hơn lá thật, số lượng lục lạp ở lá cá ít hơn và cấu trúc lục lạp cũng nhỏ hơn. Lá cá tồn tại như lá bình thường, nó có khả năng tích lũy glucid như lá bình thường, còn hàm lượng tannin thì thấp hơn lá bình thường 1 – 2%, tức phẩm chất thấp hơn.

Một số hình dạng khác nhau của lá cá

Một số hình dạng khác nhau của lá cá

Lá thật

Từ trên xuống, lá thật gồm:

+ Lớp biểu bì trên: là một lớp gồm những tế bào nhỏ, dày và cứng, có chức năng bảo vệ lá.

Đọc thêm  Cầy rau dền cơm

+ Lớp mô dậu: gồm 1 – 3 lớp tế bào chứa nhiều diệp lục xếp đều nhau, thẳng góc với lớp biểu bì trên.

+ Lớp mô khuyết: chiếm phần lớn kích thước của bề dày lá, gồm các tế bào xếp không đều nhau, tạo các khoảng hở. Trong tế bào mô khuyết có nhiều thạch bào và tinh thể oxalat canxi (khoảng 0,5%).

+ Lớp biểu bì dưới: là lớp tế bào lớn, vách mỏng, dự trử nước.

+ Ngoài ra, lông tơ che phủ các lổ khí để giảm bớt sự thoát hơi nước, bảo vệ lá. Lổ khí có kích thước to hay nhỏ, phân bố thưa hay mau tùy giống. Trong lá chè còn có hệ thống gân lá và các thể cứng, phân nhánh làm cho lá cứng.

Các nghiên cứu cho thấy có sự tương quan giữa tính chống chịu của cây chè với hình dạng, cấu tạo của lá:

– Các thứ chè có lá nhỏ, dày, màu xanh đậm, phiến phẳng, tỉ lệ mô dậu/mô khuyết càng lớn thì có khả năng chống chịu càng cao với điều kiện ngoại cảnh.

– Ngược lại, các thứ chè có lá lớn, phiến lá to, mỏng, gợn sóng, màu xanh nhạt, tỉ lệ mô dậu/mô khuyết nhỏ có tính chống chịu kém hơn.


Hình thái giải phấu lá chè chụp dưới kính hiển vi

Hình thái giải phẫu lá chè chụp dưới kính hiển vi

Hình thái giải phẫu lá và sản lượng chè

Cấu trúc lớp tế bào mô dậu của lá chè chụp dưới kính hiển vi

Cấu trúc lớp tế bào mô dậu của lá chè chụp dưới kính hiển vi

Pochet và Flemal (1982) đưa ra tương quan giữa chỉ số lá V và sản lượng của cây chè. Chỉ số lá V là một thông số phản ánh cấu trúc tương đối của lớp tế bào mô dậu của lá.

Ở lá già, số tế bào mô dậu có xu hướng giảm xuống, nhưng độ dày của lớp tế bào này lại tăng lên đáng kể. Từ dưới tôm, tổng chiều dày của lớp mô dậu tăng lên và ổn định ở lá thứ sáu, nhưng từ lá thứ tư, chỉ số lá V có xu hướng ổn định.

Willson và Clifford (1992) cho rằng sự sắp xếp các tế bào trong lá là chỉ tiêu quan trọng để phân loại. Với các chè Trung Quốc lai, lớp tế bào mô dậu thường có hai, đôi khi là ba lớp tế bào, trong khi chè assam và shan thường chỉ có  một hiếm khi có hai lớp.

Chỉ số là V đặc trưng cho từng dòng chè và dường như không bị ảnh hưởng bởi các đặc tính của khu đất canh tác và điều kiện khí hậu của vùng.

Nhìn chung cường độ ánh sáng có tác động rất có ý nghĩa (99%) lên chỉ số lá V. Ngoài ra, V cũng nhạy cảm với độ cao.

* Một số các đặc điểm khác của lá chè: các đặc điểm ngoại hình của đầu lá, gốc lá thay đổi tùy giống và là các đặc trưng để nhận diện giống. Bề mặt phiến lá có thể phẳng, láng, bóng, mờ, lồi lõm… Các thứ chè có phiến lá bóng, lồi lõm thường có năng suất cao.

Đọc thêm  Quản lý và chăm sóc vườn ươm

Thế lá thay đổi tùy giống, điều kiện ngoại cảnh. Các thế lá thường gặp lá thế lá úp, lá nghiêng, lá ngang và lá rũ, trong đó thế lá nằm ngang và rũ là biểu hiện của giống chè cho năng suất cao.

Tùy vào tuổi lá, người ta chia lá chè ra làm ba loại: lá non, lá bánh tẻ và lá già. Tuổi thọ trung bình của lá là 1 năm.

Tôm chè là lá non chưa xòe ra. Tôm chè thuộc kiểu cuốn trong.

Dựa vào kích thước phiến lá, người ta chia lá chè ra các loại: lá to, lá trung bình và lá nhỏ.

Phân loại lá theo kích thước phiến lá

Phân loại lá theo kích thước phiến lá

Người ta phân loại hình dáng phiến lá chè dựa trên tỉ lệ R = chiều dài/chiều rộng

Phân loại hình dáng phiến lá dựa theo tỷ lệ R

Phân loại hình dáng phiến lá dựa theo tỷ lệ R

Màu sắc của lá thay đổi tùy giống, tuổi cây, tuối lá, điều kiện dinh dưỡng, điều kiện ngoại cảnh. Lá có thể có màu xanh đậm, nhạt, xanh vàng, thậm chí màu tím…

Bạn có muốn nhận nội dung tương tự Cây lấy lá qua email không?