LIÊN HỆ QUẢNG CÁO: 0989.467.685 - info@caytrongvatnuoi.com

Đặc điểm sinh trưởng sinh thực của cây chè

Chỉnh sửa lúc 10/10/2018

Cây chè hạt cho hoa quả lần đầu tiên khi cây khoảng 2 tuổi, tuy nhiên lúc này cây chè còn chưa thuần thục. Giai đoạn từ 3 – 5 tuổi là giai đoạn cây chè hoàn chỉnh các đặc tính phát dục, từ năm thứ 5 trở đi, cây chè mới cho hoa trái đầy đủ, ổn định các đặc tính của giống.

Do đặc điểm phát triển từ cành dinh dưỡng, cây chè cành có thể cho hoa trái ngay trong vườn ươm, tuy nhiên khi cây còn nhỏ, chưa phát triển đầy đủ thì chất lượng hoa và quả còn chưa ổn định, chưa thể hiện đặc điểm của giống.

Mặt cắt ngang của hoa chè. A: cuống; B: sẹo lá vẩy ốc; C: đế hoa; D: đài hoa; E: cánh hoa; F: chỉ nhị; G: bầu noãn; H: vòi nhụy; I: núm nhụy (Barua, 1963)

Mặt cắt ngang của hoa chè. A: cuống; B: sẹo lá vẩy ốc; C: đế hoa; D: đài hoa; E: cánh hoa; F: chỉ nhị; G: bầu noãn; H: vòi nhụy; I: núm nhụy (Barua, 1963)

Hoa chè được hình thành từ nụ. Nụ chè được phân hóa từ mầm sinh thực ở nách lá. Hoa chè là hoa lưỡng tính, tuy vậy, phương thức thụ phấn chủ yếu là giao phấn chỉ có 2 – 3% tự thụ.

Hoa chè Shan cổ thụ

Hoa chè Shan cổ thụ

Cấu tạo hoa chè:

– Đài hoa có 5 – 9 cánh màu trắng hay phớt hồng, có khi màu đỏ.

– Hoa chè có rất nhiều nhị đực: thường mỗi hoa có 200 – 400 nhị đực. Mỗi 3 -5 chỉ nhị thường dính với nhau ở gốc. Đầu mỗi nhị đực mang hai bao phấn, mỗi bao phấn có hai túi phấn. Hạt phấn hình tam giác, còn non thì có màu vàng nhạt, khi chín có màu vàng kim. Hạt phấn có sức sống khá lâu, ở 5 ngày sau khi hoa nở, khả năng nảy mầm của hạt phấn còn 70%. Hạt phấn có khả năng thụ tinh tốt nhất ở 2 ngày sau khi hoa nở.

– Noãn sào thường có 3 – 4 ô, trong mỗi ô có một noãn, bên ngoài noãn sào được bao bọc bởi lông tơ. Núm nhụy cái chẻ làm ba, cách thức chia ba của đầu núm nhụy là một đặc điểm để phân loại. Khi hoa nở, ở gốc bầu, lông tuyến tiết ra chất nhờn màu trắng gọi là tuyết mật, tuyết mật bao quanh bầu nhụy tạo thành một vòng tròn gọi là đĩa mật. Tuyết mật có vị ngọt, mùi thơm để thu hút côn trùng.

Các giai đoạn phát triển nụ, hoa, quả và hạt chè

Các giai đoạn phát triển nụ, hoa, quả và hạt chè

Trong một ngày hoa thường nở vào khoảng 5 – 9 giờ sáng. Nhị thường chín trước nhụy cái 2 ngày.

Trong điều kiện ở Vĩnh Phú, mầm hoa được hình thành và phân hóa từ tháng sáu, đến tháng 11 – 12 hoa nở rộ và đến tháng 9 – 10 năm sau thì trái chín. Riêng ở Bảo Lộc, hoa chè có thể nở quanh năm. Khả năng ra nụ ra hoa của chè rất lớn, nhưng tỷ lệ đậu quả thường < 12%. Khả năng sinh trưởng sinh thực của cây chè hạt thường mạnh hơn chè cành.

Đọc thêm  Phương pháp chọn giống chè

Sau khi được thụ tinh xong, quả chè được hình thành, thời gian phát dục của quả chè khoảng 9 – 10 tháng. Quả chè thuộc loại quả nang (khi chín vỏ quả sẽ nứt ra), trong quả có từ 1 – 4 hạt. Hình dáng bên ngoài của quả phụ thuộc vào số lượng hạt bên trong. Khi còn non võ quả màu xanh, võ quả chuyển dần sang nâu khi già. Hạt chè chín sinh lý trước chín hình thái.

Hạt chè có thể hình tròn hoặc tam giác, kích thước hạt chè to hay nhỏ tùy giống và điều kiện dinh dưỡng, thường đường kính hạt chè biến động trong khoảng 10 – 20 mm.

Hình dạng trái và hạt chè

Hình dạng trái và hạt chè

Tỷ lệ hạt/quả thay đổi tùy giống, thường biến động trên dưới 50%. Theo Bakhơtatze, trọng lượng 1000 hạt của một số thứ chè như sau: chè Nhật Bản (1.100g); chè Trung Quốc (1.250g); chè lai Trung – Ấn (1.400g); chè Ấn Độ (Manipur) (1.700g); và chè trung du Việt Nam (2.000g).

Hạt chè được bao bên ngoài là lớp vỏ sành; lớp vỏ sành do 6 – 7 lớp thạch bào tạo thành. Khi hạt còn non vỏ sành có màu nâu phớt đỏ, khi hạt chín, màu chuyển dần sang đen. Trong lớp vỏ sành là lớp vỏ lụa mỏng, màu nâu, có nhiều gân, có tác dụng vận chuyển nước và dinh dưỡng nuôi hạt. Như vậy hạt chè không có lớp sáp bao bọc, do đó rất dễ mất nước, gây hiện tượng long óc, làm hạt không nảy mầm được


Hạt chè không có nội nhủ, lá mầm của hạt chè rất phát triển, chiếm 3/4 trọng lượng hạt. Lá mầm chứa phần lớn các chất dinh dưỡng dự trữ cần thiết cho hạt nảy mầm.

Theo Khupera và Bakhơtatze, thành phần chính của hạt chè gồm: dầu (22,9%), saponin (9,1%), albumin (8,5%), tinh bột (32,5%), glucid khác (19,9%), cellulose (3,8%), muối khoáng (3,3%).

Do hàm lượng dầu trong hạt chè cao nên cần phải thận trọng khi bảo quản, tránh để hạt mất sức nảy mầm (dầu dễ bị oxy hóa, sẽ ảnh hưởng đến mầm hoặc dưới tác động của nắng gắt, dầu sôi lên, luộc chín nội nhủ). Trước khi đưa hạt đi trồng cần phải kiểm tra tỷ lệ nảy mầm. Hàm lượng dầu trong hạt thay đổi tùy giống, vùng, hàm lượng dầu trong hạt chè ở một số vùng như sau:

+ Ở Ấn Độ                             43 – 45%

+ Ở Trung Quốc                    30 – 35%

+ Ở Nhật Bản                        24 – 26%

+ Ở Gruzia                             36%

Thành phần acid béo trong dầu hạt chè (Nakabayashi, 1991)

Thành phần acid béo trong dầu hạt chè (Nakabayashi, 1991)

Phẩm chất saponin trong hạt được đánh giá tốt vì gần giống với saponin trong cá.

Sau khi hạt nảy mầm, dưới tác động của ánh sáng mặt trời, trong lá mầm xuất hiện diệp lục tố và tiến hành quang hợp nuôi cây.

Chè có hiện tượng đa phôi, tỷ lệ khoảng 0,19% (Kutubitje, 1974). Đây là một đặc điểm rất quan trọng có thể tận dụng trong công tác chọn tạo giống và nghiên cứu tế bào học.

Đọc thêm  Giới thiệu một số giống chè

Phôi chè gồm có mầm rễ, mầm thân và mầm ngọn.

Lượng hạt giống cần dùng cho 1 ha trồng mới là 250 kg hạt.

Bạn có muốn nhận nội dung tương tự Cây lấy lá qua email không?