LIÊN HỆ QUẢNG CÁO: 0989.467.685 - info@caytrongvatnuoi.com

Quy trình kỹ thuật thâm canh khoai lang hiệu quả

Chỉnh sửa lúc 11/02/2019

Khoai lang giống

Chọn giống

Phần lớn các giống khoai lang nổi tiếng, có chất lượng hiện nay là các giống khoai lang cổ truyền ở các vùng, miền. Giống khoai này có thời gian sinh trường dài (khoảng 4,5 – 5 tháng), năng suất không cao như khoai Nghệ, khoai Lim,…Dựa theo thời gian sinh trưởng, các giống khoai lang được phân ra như sau:

Giống ngắn ngày:Thời gian sinh trưởng 75 – 80 ngày như: Khoai Hồng Quảng, Bất Luận Xuân,…Năng suất cao nhưng hàm lượng nước nhiều, tí lệ tinh bột thấp, phẩm chất kém, do đó ngày nay không còn được sử dụng.

Giống trung ngày:Thời gian sinh trưởng 100 – 110 ngày có các giống khoai 3 tháng ở Đồng bằng sông Cửu Long, khoai Chiêm Dâu ở các tỉnh miền Trung, khoai Yên Thuỷ còn gọi là Hoàng Long (nhập nội từ Hồ Nam – Trung Quốc), và một số giống khoai mới như: K51, VT1, H-1- 2, KL5, KB-1, VĐ1, KB4.

Giống dài ngày:Thời gian sinh trưởng trên 120 ngày như: Khoai Lim, khoai Thuyền, khoai Nghệ, khoai Ruột Tím,…

Ở một số nơi đã đưa vào sử dụng một số giong mới như VĐ1 (Đồng bằng sông Hồng), KB1 (Bắc Trung Bộ), H-l-2, TV1, TB1, KB1, K15, K51, PI, DT2, VA5, VA6, Jl, DJF, Elina, Kuma,… (Quảng Trị, Thừa Thiên Huế).

Cách chọn dây giống

Dây phải mập mạnh, không sâu bệnh, có nhiều mắt (đốt), trung bình dây tốt dài khoảng 30 – 40cm, phải có từ 6 – 8 mắt. Cùng chiều dài dây, những dây có lóng ngắn thường cho nhiều mắt trên dây hơn dây có lóng dài, yếu, ít mắt sẽ cho năng suất kém.

Với vị trí cắt dây:

Dây ngọn cho năng suất củ tốt nhất, kế đến những dây giữa, dây gốc thường cho năng suất thấp nhất. Dây ngọn cho ít củ nhưng củ to hơn.

Hầu hết các mắt trên thân được nằm ở vị trí thuận lợi cho việc phân hóa hình thành củ do đó số lượng củ trên dây sẽ tăng lên.

Dây bánh tẻ, dài 25 – 30cm với các tiêu chuẩn dây đoạn 1, 2 lá xanh thẫm, đốt ngắn, không ra rễ, ra hoa trước, không sâu bệnh là những đoạn hom cần chọn cắt để trồng.

Ủ dây:Cắt dây xong đem để rải nơi thoáng mát (không được đế chất đống) từ 1 – 2 ngày trước khi trông sẽ giúp dây nhanh ra rễ, nảy chòi hơn.

Trồng và chăm sóc

Thời vụ trồng khoai

Khoai lang có thể trồng được quanh năm, trừ các tỉnh từ Bắc Trung Bộ trở ra phải tránh trồng trong các tháng mùa đông lạnh.

Chọn đất và làm đất

Chọn đất:Đất thích hợp nhất đổi với khoai lang là đất thịt nhẹ, cát pha thành phần cơ giới nhẹ. Chủ động thoát nước tốt khi cần thiết.

Làm đất:

Cày bừa đất kỹ, sạch cỏ dại và trang cho mặt ruộng bằng phẳng.

Lên luống rộng 0,9 – 1,1m, cao 35 – 40cm, rãnh luống rộng 30cm.

Rạch hàng dọc luống sâu 10 – 15cm để bỏ phân lót chuẩn bị cho đặt dây.

Phân bón

Số lượng phân bón cho 1 ha:

Tùy theo giống, thời vụ, đất đai và điều kiện thâm canh có thể bón theo các mức:

Mức thâm canh trung bình: 10 tấn phân chuồng + 250kg super lân + 130kg urê + 120kg clorua kali.

Mức thâm canh cao: 15 tấn phân chuồng + 400kg super lân + 250kg urê + 200kg clorua kali.


Cách bón:

Bón lót toàn bộ lượng phân chuông, phân lân và 1/3 lượng đạm, 1/3 lượng kali. Bón theo rạch đã định trên luống và lấp đất dày 3 – 4cm mới đặt dây trồng.

Bón thúc 1 lần sau trồng từ 25 – 35 ngày tuỳ theo vụ thì tiến hành cày xả 2 bên luống, phơi đất 1 – 2 ngày. Sau đó, làm đất nhỏ bón hết số phân còn lại vào hông luống và vun cao luống.

Bón thúc lần 2 (nếu có điều kiện) vừa làm cỏ, bấm ngọn vừa bón thêm phân kali.

Đặt dây

Dây giống: Dùng đoạn 1 và đoạn 2 (dây bánh tẻ). Mỗi dây dài khoảng 25cm. số lượng dây cho lha khoảng 33.000 – 42.000 dây.

Mật độ trồng: Vụ đông trồng dày hơn vụ hè thu, vụ xuân hè. Bình quân từ 6 – 8 dây/m dài.

Phương thức trồng:

Trồng áp má: đặt áp má theo rãnh và sau đó lấp đất nén chặt.

Trồng từng dây: đặt dây giữa rãnh dùng tay lấy đất lấp dây và nén chặt (đất cát, đất thịt nhẹ lấp sâu 5 -7cm. Đất thịt nặng lấp sâu 4 – 5cm).

Ghi chú:

Ủ dây trước khi trồng 2 – 3 ngày để dây nhanh ra rễ.

Đất khô tròng sâu, nén chặt hon và tròng vào buổi chiều.

Nếu có điều kiện tưới thẳng mà đất quá khô thì sau trông cho nước vào 1/3 – 1/2 rãnh khi ngấm đều thì tháo kiệt nước.

Chăm sóc

Sau khi trồng 30 – 40 ngày, xới xào, cày (hoặc cuốc) xả hông luống.

Bón thúc sớm kết hợp cày xả hông luống. Sau đó, lấp kỹ và vun vòng cao tạo điều kiện để củ phát triển.

Nhấc dây, vén dây: Thân lá phát triển thường có nhiều rễ phụ (nông dân gọi là rễ đực) bám trên mặt luống làm tiêu hao dinh dưỡng. Do vậy, sau trồng, 45 – 50 ngày phải nhấc dây để làm đứt dễ phụ và vén dây gọn trên mặt luống nhằm tập trung dinh dưỡng cho khoai phình củ.

Trong điều kiện gặp hạn, đặc biệt là vụ thu đông, đông xuân cần có biện pháp tưới ẩm thích hợp đế kích thích quá trình phình to củ. Tưới ngập 2/3 luống khoai, khi đã ngấm vào giữa luống cân phải tháo nước ngay, không để đất quá sũng nước.

Sâu bệnh hại khoai lang và biện pháp phòng trừ

Sâu hại

Sâu gai và sâu khoang hay phá hoại khoai lang, ngoài ra nó còn gây hại cho các loài đậu, vừng, cà chua, thuốc lá, ngô,… Ban ngày chúng nấp dưới đất hoặc phía dưới mặt lá, ban đêm mới chui lên cắn ngọn và ăn lá. Khi động mạnh chúng cuộn tròn mình lăn khỏi mặt lá xuống đất.

Sâu xanh có rất nhiều màu sắc khác nhau: Màu nâu, đen, xanh. Trên lưng có gạch ngang hoặc chấm đen hay màu vàng. Sâu to, nhỏ khác nhau, đầu hoặc đuôi đều có gai.

Sâu đục thân nó đục thành hang trong dây khoai lang.

Để phòng một số loại sâu cần:

Làm đất kỹ, phơi đất hay ngâm nước để diệt nhộng dưới đất.


Phun thuốc Trebon hoặc một số loại thuốc nội hấp khi sau non mới nở tuối 1 – 2, phun vào chiều tối.

Bọ hà:

Là loại côn trùng phá hại khá nghiêm trọng trên khoai lang, bọ trưởng thành giổng như con kiến nâu, có cánh cứng màu đen. Đầu tiên chúng đẻ trứng ở thân và củ khoai, sau đó ăn sâu củ tạo thành những đường ngầm tiết ra độc tổ (khoai bị hà sùng). Vì vậy, không trồng khoai lang liên tục trên cùng một chân đất, vun cao kín gốc nhằm hạn chế bọ hà đẻ trứng trên củ khoai, tưới nước đủ ẩm và thường xuyên. Cần thu hoạch kịp thời khi khoai lang đã xuống củ.

Cách trị bọ hà khoai lang

+ Sau khi thu hoạch khoai, thu gom toàn bộ cây khoai (nhất là những củ đã bị bọ gây hại) đưa ra khỏi ruộng tiêu hủy. Nếu có điều kiện nên cho nước ngâm ruộng vài ngày để tiêu diệt ấu trùng, nhộng nằm trong đất.

+ Trước khi đưa củ khoai vào cất trữ, bảo quản cần loại bỏ những củ đã bị bọ gây hại để tránh lây lan sang củ khác. Trong thời gian tồn trữ, thỉnh thoảng đảo lại khoai kết hợp loại bỏ những củ mới bị bọ gây hại.

+ Không dùng dây khoai ở những ruộng đã bị bọ gây hại làm giống cho ruộng khác.

+ Từ khi hình thành củ, phải vun cao và kín gốc không để củ bị ló lên khỏi mặt đất, thường xuyên tưới đủ ẩm cho luống khoai để đất không bị nứt nẻ, bít đường chui xuống củ đẻ trứng của con bọ trưởng thành.

+ Trước khi trồng, nên ngâm hom giống vào dung dịch có chứa thuốc Diaphos 50EC, hay Vibasu 40ND/50ND (pha theo nồng độ phun xịt) trong vòng 30 phút để diệt sâu, nhộng bên trong hom giống. Từ khi hình thành củ trở đi có thể dùng thuốc Gà nòi 95SP hoặc Vicarp 95BHN hay Padan 95SP phun xịt định kỳ khoảng 15 ngày một lần.

+ Nếu ruộng khoai thường bị bọ hà gây hại nặng hàng năm, nên điều khiển thời vụ sao cho thời kỳ có củ tránh rơi vào mùa khô, hạn. Sau vài vụ tròng khoai lang nên luân canh một vụ với cây trồng nước.

Bệnh hại

Khoai lang cũng có rất nhiều loại bệnh như: Đốm lá, đốm đen (đốm vòng), thối mềm củ, thối đen rễ héo thân, vảy đen,… gây hại loang lổ, khô ruột củ, cây vàng lùn,…

Để phòng trừ một số bệnh trên cần:

+ Chọn giống sạch bệnh trước khi trồng.

+ Xử lý giống trước khi trồng.

+ Luân canh với cây trồng khác.

Bệnh đốm đen hại khoai lang

Bệnh còn được gọi là bệnh đốm vòng, đây là một trong những bệnh chủ yếu hại lá, thường gây hại từ khi mới trồng cho đến khi thu hoạch. Bệnh phát triển mạnh khi có mưa nhiều, đất ẩm ướt và vào giai đoạn cuối sinh trưởng của cây.

Trên lá có những vết tròn hoặc vết có góc cạnh (khi vết bệnh xuất hiện gan các gân lá) có màu nâu hoặc đen, có kích thước độ 1cm hoặc lớn hơn. Vết bệnh hơi lõm xuống, có viền rất rõ và có những vòng đồng tâm, vết bệnh thường bị khô nứt ở giai đoạn sau, cả lá bị vàng hoặc khô cháy đi. Đôi khi vết bệnh cũng xuất hiện trên củ dưới dạng các vết màu nâu đen với đường kính lcm.

Tác nhân gây bệnh:

Bệnh do nấm Alternaria solani (Eli và Martin) Jones và Crout (A. bataticola Ikata). Đính bào đài có màu nâu, phát triển nhô ra khỏi hai mặt lá, có kích thước: 50 – 90 x 8 – 9 micron. Đính bào tử có màu nâu vàng, có 5 – 12 vách ngăn, trong số đó có những vách ngăn dọc. Đính bào tử có hình quả chùy với cuống dài, kích thước rất thay đổi: 120 – 269 x 12 – 20 micron. Nẩm phát triển thuận lợi ở 26°c, nhiệt độ giới hạn là 12°c và 38°c. Nẩm thuộc loài đa thực, có thể gây bệnh cho nhiều loại cây khác nhau, có khả năng lưu tòn trong củ giống và trong xác cây bệnh.

Biện pháp phòng trị:

Vệ sinh đòng ruộng trước và sau khi tròng, xử lý củ giống bằng cách ngâm củ trong thời gian 1 giờ – 1 giờ 30 phút vào một trong các dung dịch sau đây: Formol 0,4 – 0,5% ; CuSO4 1% ; HgCl2 0,1%.

Bạn có muốn nhận nội dung tương tự Cây lấy củ qua email không?