Các giống sung có ở Việt Nam

Sung Bầu (Ficus Tinctoria)

Ficus tinctoria là cây gỗ nhỏ hay to hoặc cây leo, phụ sinh lúc còn nhỏ, cành non không lông. Lá xếp thành từng đôi, phiến bầu dục tròn dài, dài 7 – 15cm, không cân xứng, đầu tù có mùi, gân gốc không trội, không lông, nhẵn, mặt dưới có ổ khi khô, cuống dài 1cm, lá kèm cao 8mm, không lông. Quả dạng sung hai, tròn, to, khi chín màu vàng hay màu nâu đỏ, có lông mịn trên cuống ngắn. Mùa hoa tháng 1 đến tháng 4.

Bộ phận dùng

Vỏ, rễ, lá. Vỏ rễ và ký sính trùng trên lá cũng được dùng.

Nơi sống và thu hái

Sung bầu có nguồn gốc và được trồng nhiều ở Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Lào. Vảy mọc ở các trảng ấm, vùng đồng bằng khắp nước ta và rừng thứ sinh ở miền trung du từ Lào Cai, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Bắc Thái, Hòa Bình, Hà Tây, Ninh Bình, Quảng Nam – Đà Nẵng đến Khánh Hòa, Ninh Thuận.

Công dụng

Sung bầu có vị hơi đắng, chát, tính bình; có tác dụng hòa đàm, chống ho, khử phong thông lạc. Ở Ấn Độ, vỏ rễ dùng làm thuốc lợi tiêu hóa, và củng như rễ làm thuốc khai vị. Ở Trung Quốc, tại Vân Nam, dân gian dùng vỏ cây hoặc các nốt sần ở lá (do ký sinh trùng) để trị cảm mạo, co giật do sốt cao, tiêu chảy và lỵ. Nấu nước xông dùng trị đau mắt do phong hỏa, có nơi dùng trị thương hàn, đau bụng, viêm nhánh khí quản, viêm khớp do phong thấp.

Vả (Ficus Auriculata)

qua va

Mô tả

Cây gỗ nhỏ, cao 5 – 10m, có nhiều cành, có lông cứng và thưa. Lá lớn hình trái xoan, thường là tròn, có khi hình tim ở gốc, chóp tròn hay có mũi nhọn; phiến lá mềm có lông ở mặt dưới, 5 – 7 gân gốc, mép khía răng không đều, cuống lá dài, to, lá kèm màu hung, cao 2, 5cm. Cụm hoa sung ở gốc thân hay ở trên cành già, trên những nhánh riêng không có lá, rộng đến 4cm, có lông màu vàng, sẽ phát triển thành quả phức tc, xếp dày đặc trên thản cây, hình cầu dẹp, có nhiều lông thưa, khi chín màu đỏ thầm. Mùa hoa quả từ tháng 12 đến tháng 3.


Bộ phận dùng: Quả, rễ, lá

Nơi sống và thu hái

Loài phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam. Ở nước ta thường trên đất ẩm vùng rừng núi, thường thấy ở chân đồi hay thung lũng, cũng thường được trồng ở các tỉnh miền núi, cây mọc nhanh, tái sinh chồi mạnh. Các bộ phận của cây có thể thu hái quanh năm.

Thành phần hóa học: Quả chứa chất keo thơm.

Công dụng

Quả có vị ngọt, tính bình, có tác dụng làm mạnh dạ dày, nhuận tràng, điều hòa trong ruột, lợi tiểu. Rễ và lá có tính chất giải độc, tiêu thủng. Ngoài ra, quả Vả còn dùng làm thức ăn, quả chín ăn ngọt, ngon và thơm, dùng chế rượu hoặc phơi làm mứt khô; lá làm gỏi. Người ta dùng quả trị kiết lỵ, lòi dom, táo bón và trị giun. Nhựa dùng để bôi, chữa đàn ông có nhiều nước mũi, nhiều mụn đỏ lòm.

Ý kiến của bạn