Bệnh sản khoa ở trâu bò

Hình đại diện Bệnh sản khoa ở trâu bò
Hình đại diện Bệnh sản khoa ở trâu bò

U nang buồng trứng

U nang buồng trứng gây ra hiện tượng động dục không đều đặn; cũng có thể trâu bò không có biểu hiện động dục hoặc biểu hiện động dục liên tục.

Hiện tượng không bình thường này có liên quan đến tất cả các tuyến nội tiết tiết ra các hócmôn sinh sản và liên quan đến những yếu tố: di truyền, tuổi của gia súc (những gia súc cái trên 5 năm tuổi tần số xuất hiện rối loạn này tăng lên), mùa vụ, thời điểm sau khi đẻ và tiết sữa… Bệnh thường xuất hiện ở bò sữa (đặc biệt là ở những con có năng suất sữa cao) mà rất ít khi gặp ở bò thịt.

Chẩn đoán

Việc chẩn đoán bệnh dựa vào những dấu hiệu sau đây:

– Gia súc cái có các chu kỳ động dục không đều đặn hoặc không thấy có chu kỳ động dục.

– Khi có biểu hiện động dục liên tục, chúng có hành động không bình thường; có xu hướng nhảy lên những gia súc cái khác hoặc thường là nguồn quấy nhiễu trong đàn.

Trong trường hợp động dục liên tục, thường quan sát thấy hiện tượng trùng các dây chằng và điều đó cho cảm giác là chúng cong đuôi. Âm hộ xưng tấy và ở mép dưới cũng như trong âm đạo, có thể thấy niêm dịch, đôi khi có chút mủ.

– Khi sờ qua trực tràng nhận thấy cổ tử cung và tử cung mềm; có thể dễ dàng đẩy được một pipet qua cổ tử cung. Trên các buồng trứng sờ thấy một hay nhiều bao nang với đường kính khác nhau, nhưng nhìn chung đều trên 2,5cm. Thông thường, rất khó xác định và phân biệt giữa bao nang bình thường và u nang. Muốn phân biệt chính xác, cần sờ nắn lại sau một vài ngày. Nếu là một bao nang bình thường thì nó sẽ rụng trứng, nhưng nếu là u nang thì nó vẫn luôn luôn như cũ. Một chỉ tiêu khác để xác định trường hợp bệnh lý này là khỏng thấy có thể vàng thoái hoá đồng thời với sự hiện diện của các bao nang kích thước lớn trên buồng trứng.

– Bằng việc sờ khám qua trực tràng khó phân biệt được giữa u nang thể vàng và u bao nang. Để phân biệt, đòi hỏi phải có rất nhiều kinh nghiệm và có thể dựa vào các chí tiêu như thành của u nang thể vàng dầy hơn thành của u bao nang; chất lỏng bên trong u bao nang dao động mạnh hơn so với trường hợp u nang thể vàng.

Điều trị

Trường hợp bệnh xuất hiện trong vòng 60 ngày sau khi đẻ, người ta có thể hy vọng là bệnh tự khỏi. Sau khoảng thời gian này cần phải can thiệp, điều trị. Mọi can thiệp đều nhằm mục đích tiêu huỷ u nang và gây cho chu kỳ động dục trở lại hoạt động.

Phá huỷ u nang bằng tay:

Tức là qua thành trực tràng dùng tay phá huỷ u nang, như vậy sẽ gây ra hiện tượng rụng trứng và một thể vàng mới hình thành. Biện pháp điều trị này cho tỷ lệ thành công khoảng 20%. Ưu điểm của phương pháp là không phải chi phí gì cả, nhưng nó cũng có bất lợi lớn là có thể làm dính buồng trứng với ống dẫn trứng.

Bổ sung hócmôn lutein (LH):

Mục đích của cách điều trị này là làm tăng tỷ lệ hócmôn LH trong máu, với việc tiêm hoặc 250µg liberin (tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp), hoặc 6.000 đvqt kích tố nhau thai người (HCG) (tiêm tĩnh mạch). Kết quả cho thấy, 70% số gia súc phản ứng tốt với cách điều trị này. Khoảng thời gian từ khi bắt đầu điều trị cho đến khi xuất hiện các dấu hiệu động dục đầu tiên là từ 16 đến 23 ngày. Người ta chỉ dẫn là phải phối tinh cho bò ngay lập tức, bởi vì việc mang thai sẽ là biện pháp phòng bệnh này tốt nhất.

Bổ sung progesteron:

Mục đích là thay thế hoạt động của thể vàng. Việc thay thế này được tiến hành bằng nhiều cách (trộn acetat chlormadinon vào thức ăn và cho trâu bò ăn trong thời gian 14 ngày, mỗi ngày 10mg; đặt vòng xoắn PRID (Sanofi) vào âm đạo; đặt các viên cấy (Synchromate B) dưới da). Trên lý thuyết, phương pháp này được chỉ dẫn trong trường hợp khi điểu trị bổ sung hócmôn LH không thành công.

Nhìn chung, 2 – 3 ngày sau khi loại bỏ nguồn cung cấp progesteron thì trâu bò cái có biểu hiện động dục, tuy nhiên tỷ lệ thụ thai trong kỳ động dục này rất thấp, tỷ lệ thụ thai của chu kỳ tiếp theo bình thường.

Bổ sung prostaglandin:

Prostaglandin F2α và những chất tương tự có hiệu quả làm tiêu huỷ thể vàng (các tế bào lutein). Điều kiện cơ bản cho cách điều trị này thành công là u nang lutein. Tuy nhiên, như trên đã nêu, việc xác định một u nang thuộc loại như vậy không phải dễ dàng. Để bảo đảm chính xác, cần phải xác định hàm lượng progesteron trong máu hoặc trong sữa. Nhưng phải lưu ý loại trừ trường hợp trâu bò cái có chửa, bởi vì tiêm prostaglandin F2α vào thời kỳ mang thai, làm tiêu huỷ thể vàng và gây ra hiện tượng xảy thai.

Viêm nội mạc tử cung

Trong lúc đẻ và ngay sau khi đẻ, tử cung bị vi khuẩn xâm nhập. Khi trâu bò đẻ bình thường và khi quá trình hồi phục của tử cung diễn ra bình thường thì dịch tiết tử cung ở đa số trâu bò cái không chứa các vi khuẩn.

Viêm nội mạc tử cung thường gặp ở bò cái sữa, ít gặp ở những trâu bò cái khác. Nguy cơ viêm nội mạc tử cung phụ thuộc chủ yếu vào thời gian xuất hiện lại chu kỳ động dục sau khi đẻ. Khi động dục xuất hiện càng sớm thì nguy cơ bệnh càng nhỏ. Bởi vì, trong thời gian động dục, dưới ảnh hưởng của các estrogen được tiết ra, niêm mạc tử cung trở nên sung huyết và có sự thấm xuất của các bạch cầu. Những bạch cầu này tấn công các tác nhân gây bệnh trong tử cung. Cũng do ảnh hưởng của các estrogen, độ axít trong tử cung thấp hơn so với thời kỳ thể vàng hoạt động. Điều này cũng góp phần vào việc đào thải các vi khuẩn. Như vậy, trong thời gian động dục, tử cung có khả năng chống lại sự nhiễm khuẩn trong chừng mực mà các tác nhân gây bệnh không quá độc hại và số lượng vi khuẩn không quá lớn.

Tử cung có thể bị viêm nhiễm trong một số trường hợp, do số lượng lớn vi khuẩn tấn công, cũng như bởi các vi khuẩn đặc trưng, có độc tính cao.

Viêm nội mạc tử cung có liên quan đến thụ tinh nhân tạo hoặc phối trực tiếp

Khi phối tinh, rất có thể xảy ra trường hợp thành tử cung bị tổn thương. Các vi khuẩn có trong tinh dịch hoặc cùng với tinh quản, được đưa vào tử cung, gây ra nhiễm trùng thứ cấp. Tùy theo sức công phá của vi khuẩn mà nhiễm trùng phát ra nhanh hay chậm, nhưng thông thường thì trong khoảng 48 giờ. Thường thì cơ tử cung cũng bị bệnh và đôi khi thấy trường hợp tử cung bị thủng và viêm phúc mạc.

Trâu bò ăn rơm

Trâu bò ăn rơm

Trong trường hợp này chẩn đoán bệnh đựa vào các triệu chứng lâm sàng. Các triệu chứng này thay đổi tuỳ theo mức độ trầm trọng của chứng viêm, Có thể thấy gia súc bị sốt, kém ăn, mạch đập và tần số hô hấp tăng lên, những dấu hiệu của chứng viêm phúc mạc, sản lượng sữa giảm đột ngột, gia súc gầy đi nhanh chóng.

Khi sờ nắn qua trực tràng thấy tử cung phồng lên. Trong trường hợp viêm phúc mạc, có thể cảm giác thấy bề mặt tử cung sần sùi.

Thấy có dịch chảy từ âm đạo màu nâu đậm, lẫn mủ và lẫn các mẩu mô tế bào. Cần phân biệt dịch chảy trong trường hợp này với các dịch chảy sinh lý.

Điều trị bệnh bằng kháng sinh phổ rộng liều cao đưa vào tử cung, kết hợp với tiêm bắp, trong vòng ít nhất 5 ngày. Nếu như gia súc đáp ứng tốt với phác đồ điều trị thì bệnh sẽ khỏi dần, nhưng lâu và có thể sau một vài tuần lễ mới khỏi bệnh hoàn toàn.

Viêm nội mạc tử cung hoặc viêm tử cung thời kỳ hồi phục sau đẻ

Bệnh có thể xuất hiện dưới dạng cấp tính hoặc mãn tính.

– Dạng cấp tính:

Dạng viêm cấp tính liên quan đến việc hệ cơ của tử cung không co bóp và gần như luôn luôn đi cùng với hiện tượng đẻ không bình thường hoặc hiện tượng sát nhau, Các vi khuẩn xâm nhập vào bên trong tử cung, tại đây chúng nhân lên nhanh chóng và các độc tố do chúng thải ra gây nên hiện tượng nhiễm độc máu cho gia súc.

Triệu chứng bệnh: gia súc ăn kém ngon miệng, trông có vẻ buồn ngủ, sản lượng sữa giảm, sốt, mạch đập của tim và tần số hô hấp tăng lên. Dịch chảy có mùi rất khó chịu và có màu nâu thẫm. Sờ qua trực tràng thấy tử cung căng phồng và không co bóp gì cả.

Trước khi điều trị, dùng tay loại bỏ đến mức tối đa những phần còn lại của màng nhau. Sau đó điều trị với các kháng sinh phổ rộng bằng cách đưa thẳng vào tử cung (2, 5g oxylelracycline). Nếu khó đưa qua cổ tử cung, có thể dùng một pipet thụ tinh nhân tạo và bơm kháng sinh dưới dạng dung dịch vào bên trong.

Một khi các vi khuẩn bị tiêu diệt và không còn hiện tượng nhiễm độc máu, tử cung sẽ co bóp và thải dịch ra ngoài.

– Dạng mãn tính:

Bệnh này là hậu quả của dạng viêm tử cung cấp tính mà gia súc đã chống chịu được hoặc nó là bệnh tiên phát, trong các trường hợp, do nhiều lý do khác nhau, gia súc không có khả năng thải tất cả vi khuẩn nhiễm vào tử cung trong lúc đẻ và trong thời kỳ hồi phục sau đẻ. Nhìn chung, tác nhân chủ yếu của bệnh là các liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn, E.coli hoặc Actinomyces pyogenes.

Viêm nội mạc tử cung với chu kỳ động dục bình thường

Hai ba tuần sau đẻ thấy có dịch màu trắng nhạt và có mủ chảy ra ở mép dưới âm hộ. Lượng dịch rất thay đổi. Trông không thấy gia súc có vẻ ốm nhưng ăn không ngon miệng và sản lượng sữa không được như mong đợi.

Chẩn đoán bệnh dựa vào các dấu hiệu nêu trên, kết hợp với sờ nắn qua trực tràng và khi đó thấy sừng tử cung đã mang thai lớn hơn sừng tử cung kia. Chu kỳ động dục trở lại bình thường và sờ thấy một thể vàng chu kỳ trên một trong hai buồng trứng.

Khi kiểm tra bằng cách soi âm đạo thấy niêm mạc hồng nhạt và dịch mủ chảy ra từ lỗ cổ tử cung. Soi âm đạo còn cho phép phân biệt giữa viêm nội mạc tử cung với nhiễm trùng cổ tử cung, viêm âm đạo, áp-xe quanh âm đạo hoặc với viêm đường âm đạo – tiết niệu.

Việc điều trị tuỳ thuộc vào mức độ trầm trọng của nhiễm trùng và khoảng thời gian trôi qua, từ khi đẻ đến khi bắt đầu điều trị. Có thể đưa thẳng vào tử cung các chất kháng khuẩn hoặc các kháng sinh phổ rộng (ví dụ: dung dịch Lugol 100ml, oxytetracyclin 2,5g, hoặc các chất tương tự), (dung dịch Lugol là hỗn hợp I2, KI và nước cất theo tỷ lệ 1:2:300).

Cũng có thể tiêm 750mg kanamycing hoặc penicilling hòa tan trong 100 ml dung dịch nước sinh lý.

Trong trường hợp nghi ngờ viêm nội mạc tử cung phát triển thành viêm tử cung và nếu như có một thể vàng trên buồng trứng thì tốt nhất là điều trị chứng nhiễm trùng này bằng prostaglandin.

Để phòng bệnh này cần tuân thủ các quy tắc vệ sinh trong thời kỳ gia súc đẻ. Khi trong đàn có một gia súc bị viêm nội mạc tử cung, cần nuôi tách riêng với những con khác để tránh lây nhiễm qua dịch, mủ. Cần dùng tay loại đi hết những mẩu màng nhau thai, để làm sao cho các môi âm hộ đóng lại.

Viêm nội mạc tử cung mãn tính với thể vàng tồn lưu (viêm tử cung tích mủ)

Việc chuyển từ viêm nội mạc tử cung với chu kỳ động dục bình thường sang viêm nội mạc tử cung có thể vàng tồn lưu diễn ra từ từ. Lượng mủ tăng lên và phân tán rộng trong toàn bộ sừng tử cung. Chứng nhiễm trùng có thể lây sang cả ống dẫn trứng và gây ra viêm ống dẫn trứng. Thành của sừng tử cung bị bệnh không còn khả năng giải phóng prostaglandin vào tuần hoàn máu. Kết quả là thể vàng không còn bị tiêu huỷ nữa và chu kỳ động dục bị ngừng lại.

Chẩn đoán bệnh dựa vào các triệu chứng, tương tự như trong trường hợp viêm nội mạc tử cung có chu kỳ động dục. Việc chẩn đoán tiến hành bằng sờ qua trực tràng và bằng soi âm đạo. Sờ qua trực tràng thấy thể vàng hiện diện trên một trong hai buồng trứng và có sự mất cân đối giữa các sừng tử cung.

Khi chẩn đoán bệnh bằng sờ qua trực tràng, cần lưu ý tránh nhầm lẫn bệnh này với trường hợp mang thai. Trong trường hợp bệnh, không thấy hiện tượng trượt của các màng nhau, sự hiện diện của màng dương và không có các núm nhau. Nếu có thể làm cho dịch chứa bên trong di chuyển từ sừng tử cung này sang sừng tử cung khác thì có thể khẳng định chắc chắn là trường hợp viêm tử cung tích mủ.

Bệnh không bao giờ tự khỏi nếu không can thiệp. Biện pháp điều trị tốt nhất là tiêm prostaglandin để làm tiêu biến thể vàng, giảm hàm lượng progesteron và tăng hàm lượng estrogen trong máu. Cổ tử cung mở, tử cung co bóp và như vậy mủ được thải ra.

Viêm âm đạo

Viêm âm đạo tiên phát thường do các tổn thương khi đẻ, sau đó bị nhiễm trùng gây ra. Tiếp theo là viêm tử cung và cổ tử cung như một chứng nhiễm trùng thứ phát. Viêm âm đạo cũng có thể xuất hiện vào thời kỳ hồi phục sau đẻ, do nhiễm trùng khi phối giống tự nhiên.

Người ta phân biệt viêm âm đạo đặc trưng và viêm âm đạo không đặc trưng:

Viêm âm đạo không đặc trưng

Là những chứng nhiễm trùng do liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn, E. coli, Actinomyces pyogenes gây ra. Những vi khuẩn này có nguồn gốc từ dương vật gia súc đực và có thể nhiễm cả trâu bò cái tơ và trâu bò cái trưởng thành, đã đẻ nhiều lứa. Cùng một lúc có thể nhiều trâu bò cái bị nhiễm bệnh này nếu như chúng được phối bằng cùng một con đực.

Ở những con bị bệnh thấy có mủ chảy ra từ âm đạo và thường dính rải xung quanh gốc đuôi. Qua kiểm tra bằng soi âm đạo, thấy niêm mạc âm đạo sung huyết và đỏ. Thực tế là luôn có hiện tượng tăng tiết và điều đó có thể làm cho ta nhầm lẫn với các dịch tiết động dục. Thông thường thì sau hai tuần bênh tự khỏi.

Để phòng bệnh này, vấn đề vệ sinh rất quan trọng. Nếu cần thiết, có thể điều trị cục bộ cho đực giống (dương vật và bìu đương vật) bằng thuốc mỡ kháng sinh.

Viêm âm đạo đặc trưng

Viêm âm đạo đặc trung là những trường hợp bệnh truyền nhiễm đặc trưng và chúng thường đi cùng với viêm nội mạc tử cung, chủ yếu do Campylobacter fetus, Trichomonas.