LIÊN HỆ QUẢNG CÁO: 0989.467.685 - info@caytrongvatnuoi.com

Vài nét về trao đổi chất và năng lượng ở cá

Chỉnh sửa lúc 11/05/2018

Trao đổi chất

Cũng như các động vật khác. Trao đổi chất ở cá bao gồm:

– Thu nhận thức ăn từ môi trường. Thực hiện các hoạt động tiêu hoá và hấp thụ; (riêng cá có hành động hấp thụ một số chất qua bề mặt cơ thể mà không qua ống tiêu hoá).

– Tái tổng hợp và phân giải các chất sống cho cơ thể (chuyển hoá) để sản sinh năng lượng (trao đổi chất trung gian).

– Kiến tạo cơ thể từ các chất dinh dưỡng hấp thu được (đồng hoá).

– Thải các sản phẩm thừa (bài tiết).

– Trao đổi chất tiêu hao và trao đổi chất thay thế chỉ có tác dụng duy trì hoạt động sống (trao đổi chất cơ bản/cơ sở), trao đổi chất sinh trưởng và tích luỹ mới làm gia tăng khôi lượng cơ thể.

– Quá trình trao đổi chất tích luỹ nhằm mục đích tăng cường các chất dự trữ cho cơ thể; trước hết là chất béo và glycogen.


– Cá có khả năng tái sản xuất quần đàn cao (đẻ nhiều trứng), khối lượng tuyến sinh dục của cá lớn, bình thường từ 10 – 20% tổng khối lượng cơ thể, nhiều khi tới 30%, nếu tính cả mùa sinh sản, có khi đạt tới 100% – 200%. Chất béo là nguồn năng lượng chính đảm bảo cho quá trình tổng hợp nên sản phẩm sinh dục của cá (thành phần chính của trứng cá là chất béo – noãn hoàng).

– Cá có thể tổng hợp một số acid béo mà không cần lấy từ thức ăn (gọi là acid béo nội môi), chúng khác acid béo lấy từ thức ăn. Ở cá; sự gia tăng hàm lượng acid béo không no đã giảm độ hạ băng điểm cho cơ thể, giữ điều hoà thân nhiệt; luôn giữ được quá trình trao đổi chất cho cơ thể ở mức độ cần thiết. So với các động vật khác, hàm lượng acid béo không no ở cá nhiều hơn đáng kể là vì: Thức ăn của cá có nhiều acit béo không no (là tảo); thích nghi với điều kiện sống trong môi trường nước, mất nhiệt rất nhanh khi nước lạnh đi (hàm lượng nước trong cơ thể cá luôn biến động ngược với hàm lượng mỡ). Lượng mỡ dự trữ trong gan cá cái cao hơn trong cá đực (vì để tạo trứng). Cá được nuôi bằng thức ăn giầu chất béo, sẽ có hàm lượng mỡ trong cơ thể cao. Có thể phân loại hoạt động trao đổi chất của cá theo sơ đồ sau:

– Trao đổi chất tiêu hao (cơ bản, duy trì, cơ sở) -► Trao đổi chất chung -►Trao đổi chất thay thế (gồm 3 thành phần) -► Trao đổi chất sinh trưởng -► Trao đổi chất xây dựng -► Trao đổi chất tích lũy.

Trao đổi chất tiêu hao và trao đổi chất thay thế nhằm duy trì hoạt động sống của cơ thể cá. Trao đổi chất sinh trưởng và trao đổi chất tích luỹ nhằm tăng trưởng khôi lượng cơ thể. Cũng là mục tiêu của người nuôi cá.

Đọc thêm  Nuôi giữ tôm càng xanh qua đông

Sự tích luỹ năng lượng ở cá trước hết là chất béo, sau đó mới đến glycogen và protein (khác với gia súc, gia cầm; trước hết là glycogen và protein). Ớ cá, nguồn năng lượng chính là chất béo, glycogen và protein bị coi là phụ. Đối với cá di cư đi trú đông, nếu nhiệt độ môi trường có xuống thấp mà chất béo chưa tích đủ, cá cũng chậm di cư, chúng chỉ bắt đầu đi khi đã tích đủ mỡ, nhiều khi, do chưa tích đủ mỡ mà chúng ở lại và bị chết rét như cá cơm sống ở biển Azov chỉ di cư khi độ béo đạt 14% khối lượng cơ thể.

Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình trao đổi năng lượng của cá

Cường độ trao đổi chất của cá phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Đơn vị tính cường độ trao đổi chất là “Lượng tiêu hao ôxy”: mg/l/đơn vị thời gian (phút, giờ); được tính bằng sự suy giảm ôxy sau một thời gian nhất định của từng cá thể, trong từng giai đoạn của cơ thể, với thời gian theo dõi. Cường độ trao đổi chất phụ thuộc vào giống, loài, kích thước, tình trạng (no, đói, đang mang trứng..), mùa vụ, môi trường (trong đó quan trọng là nhiệt độ, pH, ôxy và CO2 hoà tan). Cá đói, lượng tiêu hao ôxy cao hơn cá no. Khi 2 cá thể cùng tình trạng, cá thể nào có lượng tiêu hao ôxy cao hơn tức là hoạt động mạnh hơn, sẽ lớn nhanh hơn.

Bão hòa của oxy hòa tan (DO) ở các nhiệt độ, độ sâu, độ mặn khác nhau

Bão hòa của oxy hòa tan (DO) ở các nhiệt độ, độ sâu, độ mặn khác nhau

 

Bạn có muốn nhận nội dung tương tự Thủy sản qua email không?