LIÊN HỆ QUẢNG CÁO: 0989.467.685 - info@caytrongvatnuoi.com

Các chất đa lượng trong dinh dưỡng của cá

Chỉnh sửa lúc 27/04/2018

Trong khẩu phần ăn; cá nuôi cần có đủ chất dinh dưỡng như protein, hydrat cacbon, chất béo, vitamin, chất vi lượng và khoáng để đáp ứng các nhu cầu của hoạt động sống. Các nhu cầu này thay đổi theo thời gian, giai đoạn sinh trưởng, sinh sản và các yếu tố môi trường. Các chất dinh dưỡng cho cá được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau như các vật sống ngay trong môi trường (tảo, vi khuẩn, rong, cỏ nước…), các nguồn vật chất hữu cơ có trong môi trường và thức ăn bổ sung, do con người cung cấp. Thức ăn được định nghĩa là nguồn chất dinh dưỡng tự nhiên được tạo ra trong môi trường và thức ăn cũng có thể là từ thiên nhiên hay các nguồn chất dinh dưỡng được con người sản xuất ra và bổ sung cho môi trường. Cá với tập quán ăn rất đặc trưng; như loài dinh dưỡng bằng vi lọc (cá mè), loài ăn cỏ (trắm cỏ, bông), loài ăn cá (cá quả, cá vược), cá có thể phụ thuộc hoàn toàn hay một phần vào nguồn thức ăn tự nhiên như một số loài kể trên (vì chúng chỉ ăn thức ăn có sẵn trong tự nhiên). Một số loài cá ăn tạp (chép, rô phi) ít đặc trưng hơn và cũng ít bị phụ thuộc vào thức ăn tự nhiên bởi chúng sẵn sàng ăn các loại thức ăn công nghiệp và không có đòi hỏi nào khác trong khẩu phần ăn của chúng. Những loài cá này được dùng là đối tượng nuôi chính để nuôi thâm canh, nuôi theo hướng công nghiệp, khi được cung cấp thức ăn hoàn chỉnh về mặt dinh dưỡng. Thức ăn bổ sung thường giàu protein, song không được hoàn thiện về mặt dinh dưỡng, vì một số chất vi lượng, vitamin, hormon, enzym… có trong thức ăn tự nhiên ta còn chưa biết hết huống hồ sản xuất ra chúng. Bởi vậy, khi nuôi cá, ở mức độ nào đó, vẫn phải cần số lượng thức ăn tự nhiên, dù không nhiều. Thức ăn hoàn thiện về dinh dưỡng là các loại thức ăn được phôi hợp từ nhiều thành phần, cho lên men và sản xuất qua quá trình nén thành viên bằng hơi nước hoặc đùn ép.

Với các vật nuôi khác cá, nhu cầu dinh dưỡng quan trọng đầu tiên là nước vì nước chiếm tới 70% tổng khối lượng cơ thể động vật trên cạn và hơn nữa ở thuỷ sinh vật. Tuy nhiên, do suốt cả đời sống của cá trong môi trường nước; nên yếu tố này không còn quá quan trọng với chúng. Dinh dưỡng của động vật gồm 2 thành phần chính: Đa lượng và vi lượng. Các chất đa lượng bao gồm: Protein, hydrat cac bon, chất béo. Các chất vi lượng hàng đầu là các loại vitamine, một số enzym, hocmôn. Toàn bộ nhu cầu dinh dưỡng (đặc biệt là yếu tố đa lượng) đều được cung cấp từ môi trường, một số chất vi lương (chủ yếu vitamine), vật nuôi có thể tự tổng hợp từ nguyên liệu được cung cấp thông qua thức ăn.

Đạm, protid, protein

Trước đây, người ta hay dùng từ “đạm” (N),để chỉ chất dinh dưỡng quan trọng đầu tiên này. Ngày nay, danh pháp quốc tế đã thông nhất gọi là “protein”. Từ này xuất phát từ chữ Hy Lạp “proteios” nghĩa là thứ nhất, quan trọng nhất. Đó là một hợp chất hữu cơ phức tạp, có phân tử lớn, gồm 4 nguyên tố cacbon, hydro, oxy và luôn phải có nitơ, sự hiện hữu nguyên tố này được coi là quan trọng nhất; ngoài N ra, còn một số nguyên tố như phos pho (P), lưu huỳnh (s), kẽm (Zn) F. Ăng ghen đã nói: “Không có sự sống, nếu không có protein”. Mọi quá trình sinh học của vật nuôi như sinh trưởng, sinh sản, phát triển đều phải có sự hiện hữu protein, cấu tạo nên phân tử protein là các acid amine, đây mới là cấu thành cơ bản, quan trọng nhất, có ý nghĩa nhất về dinh dưỡng đối với vật nuôi. Ta có thể tưởng tượng và so sánh một cách “khập khiễng” như thế này: Các ngôi nhà, biệt thự… đa hình đa dạng giống như sự phong phú của các loài trong tự nhiên. Tuy nhiên tất cả các ngôi nhà đều được xây từ cùng một loại nguyên liệu là gạch, vôi, xi măng, cát, sỏi, thép… những nguyên liệu đó chính là các loại acid amine.

Vai trò của protein: Protein là cấu trúc cơ bản hình thành nên mô mềm của các tể chức ở động vật như cơ, mô liên kết, colagen, da, lông, móng, sừng, mỏ. Protein tham gia vận chuyển chất dinh dưỡng; chúng đóng vai trò “chất mang”, cùng với chất dinh dưỡng tạo thành các phức chất dễ hấp thu. Protein có vai trò quan trọng trong quá trình duy trì, phát triển của mô và hình thành những chất cơ bản trong hoạt động sống của sinh vật. Protein là thành phần quan trọng của nhân tế bào và các chất gian bào; một số protein liên kết phân bố ở tất cả các tổ chức cơ thể là nucleotid. Albumin và globulin như nguồn cung cấp acid amine dự trữ, duy trì mối cân bằng trong cơ thể. Albumine tạo áp suất thẩm thấu keo, thường gọi là áp suất keo. Áp suất này giữ cho huyết tương khỏi thoát ra ngoài mao mạch. Một số protein đặc hiệu quan trọng tham gia vào thành phần của men, nội tiết tố, kháng thể và các hợp chất khác trong cơ thể như: Globulin có trong sắc tố hồng cầu, gama globulin tham gia vào hình thành rodoppin của võng mạc mắt, fibrinogen tham gia vào chức năng đông máu. Protein điều chỉnh thẩm thấu và cân bằng ion H+ trong cơ thể, nó có vai trò như chất đệm, giữ cho pH của máu ổn định, đảm bảo cho hệ thống tuần hoàn vận chuyển nhiều loại ion, đảm bảo sự hoạt động bình thường của cơ thể. Protein đóng vai trò giải độc, tham gia tổng hợp kháng thể, chống nhiễm trùng, giữ cho hệ thống miễn dịch của cơ thể hoạt động hữu hiệu; protein có vai trò cân bằng năng lượng trong cơ thể.

Phân loại protein Mặc dù đều được cấu tạo từ các acid amine, nhưng vị trí, số lượng, cấu tạo hình thể của chúng khác nhau tạo ra các loại protein không như nhau. Protein được phân loại theo kích thước; tính hoà tan (trong mỗi loại dung môi), hình thể và thành phần hoá học: Các protein như albumin, globulin, prolamin hay gliadin, histon… thuộc loại protein dạng cầu. Các loại protein như colagen, elastin, keratin… thuộc loại protein hình sợi. Các loại potein như Nucleoprotein, mucoprotein, glycoprotein, lyprotein, cromoprotein…thuộc loại protein liên kết.

Protein thô. Protein thô được hiểu bao gồm các vật chất chứa nitơ (N), là hợp chất của N-phi protein và hợp chất N protein, về giá trị dinh dưỡng, chỉ có các acid amine trong N-phi protein và N-protein là có ý nghĩa. Hầu hết các chất N-phiprotein như các muối: urê CO(NH2)2; Sulphate amoni (NH4)2SO4; bicacbonat amoni NH4HCO3 không có giá trị dinh dưỡng vì vật nuôi không tiêu hoá được chúng do không có men tiêu hoá loại này. Hàm lượng protein thô trong vật chất khô của thức ăn có nguồn gốc thực vật và động vật khác xa nhau và biến động rất lớn: Từ 2 – 3 cho tới 70 – 80%. Thông thường, hàm lượng protein trong thức ăn có nguồn gốc động vật lớn hơn thực vật, ở cây họ đậu lớn hơn hạt cốc. Bột cá, bột thịt có tới 60 – 70%, trong khi sắn khô chỉ có 2 – 3% protein thô, bèo dâu khô đến 20 – 30%, khô dầu họ đậu 20 – 50%, bột lông vũ, bột máu 80-85% (Ngô Hồng Mận, Bùi Đức Lũng; 2003). Qua số liệu trên,chúng ta có nhận xét: Bột lông vũ, tuy có hàm lượng protein thô rất lổn (80-85%), nhiữig không có giá trị dinh dưỡng; nhưng bột cá, tuy hàm lượng protein thô thấp hơn (60-70%), lại có giá trị dinh dưỡng. Như vậy, đánh giá giá trị dinh dưỡng không hoàn toàn vào tổng hàm lượng protein thô của thức ăn mà xem vào khả năng tiêu hoá, hấp thụ của chúng.

Protein tiêu hoá. Tỷ lệ protein tiêu hoá là tỷ lệ % của protein hấp thụ được so với phần ăn vào. Được tính như sau:

Tỷ lệ protein tiêu hoá (%) = (Protein thu nhận (g)- Protein thải ra ở phân (g))/Protein thu nhận (g)

Không phải toàn bộ lượng protein thô trong thức ăn được vật nuôi tiêu hoá hết, một phần không tiêu, không sử dụng được, bị thải ra ngoài cùng phân. Protein còn lại được gọi là protein tiêu hoá. Tỷ lệ protein tiêu hoá càng cao, giá trị dinh dưỡng (còn gọi là giá trị sinh học) của thức ăn càng lớn. Các loại thức ăn có nguồn gốc động vật có giá trị dinh dưỡng cao hơn thức ăn có nguồn gốc thực vật. Trong đó, thức ăn như sữa, trứng, thịt có tỷ lệ tiêu hoá từ 90 – 95%, trong khi từ khô dầu đậu tương, khô lạc là 80 – 86%, ngô là 75 – 78% (Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng; 2003). Protein được hấp thụ trong ông tiêu hoá vật nuôi qua màng ruột, luôn ở dạng acid amine. Đối với cá, người ta đã xác định: “Protein có nguồn gốc thực vật, chỉ có thể thay thế đến 30% tổng nhu cầu protein của cơ thể” (còn lại phải là protein có nguồn gốc động vật). Như vậy có nghĩa là: Khi sản xuất thức ăn cho cá, không thể thay thế toàn bộ nhu cầu protein của cá nuôi chỉ bằng protein của thực vật (như khô dầu đậu tương hay khô lạc – để cho rẻ) được.

Đọc thêm  Xử lý đáy ao nuôi tôm sú

Tỷ lệ hiệu quả của protein thức ăn. Thông số này được Osbome đề xuất năm 1919,gọi tắt là PER (Protein Efficiency Ratio) là khối lượng (g) tăng trọng cho 1g pro­tein vật nuôi ăn vào (tăng trọng cho mỗi đơn vị protein ăn vào). Được tính như sau:

PER = Tăng trọng (g)/ Lượng protein thu nhận (g)

Qua công thức này, chúng ta có nhận xét: “Các loại protein khác nhau có giá trị PER khác nhau. Người ta đã thí nghiệm trên chuột và thu được kết quả sau:

Giá trị sinh học của pro­tein Giá trị sinh học của pro­tein (BV – Biological Value) là tỷ lệ % của phần protein tích lũy so với phần protein tiêu hoá của thức ăn. Nghĩa là: BV là tỷ lệ % của protein hấp thu từ thức ăn được tích luỹ. Thuật ngữ này được Thomas và Mitchell đề xuất năm 1924.

BV = (Protein thu nhận – (protein từ phân + nước tiểu))/ (Protein thu nhận-Protein phân)


Một cách tính khác:

BV = Protein tích lũy/ Protein tiêu hóa x 100

Như vậy: Protein của thức ăn có trị số BV lớn thì có chất lượng tốt. Nhìn chung; BV của Protein có nguồn gốc động vật lớn hơn protein có nguồn gốc thực vật. BV của hạt họ đậu đã xử lý nhiệt lớn hơn hạt ngũ cốc. Trên lợn đang sinh trưởng, người ta đã xác định được một số thông số BV như sau:

Khi mà protein được cung cấp từ thức ăn có đầy đủ các acid amine cần thiết để tạo nên protein của cơ thể vật nuôi (protein không thay thế) thì protein trong thức ăn đó được gọi là protein có giá trị sinh học đầy đủ, hay là thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao. Nếu chỉ thiếu 1 trong các acid amin không thay thế nào đó thì khả năng sử dụng protein của vật nuôi bị giảm sút theo tỷ lệ thuận với nó. Thí dụ: Nếu một acid amine không thay thế nào đó chỉ đạt mức 60% so với yêu cầu, thì vật nuôi chỉ sử dụng được 60% tổng nguồn protein mà thức ăn cung cấp. Từ đó, ta có nhận xét: Việc chế biến thức ăn cho vật nuôi cần phải đầy đủ, cân đối dinh dưỡng; nếu thiếu một vài acid amine không thay thế trong thức ăn cho vật nuôi, không những làm rối loạn quá trình tổng hợp pro­tein trong cơ thể chúng mà còn dẫn đến phá huỷ sự trao đổi chất, sự tạo thành các ezyme và hocmôn… Hậu quả của những nguyên nhân đó là sinh trưởng của vật nuôi bị kìm hãm, sức khoẻ suy yếu, khả năng miễn dịch suy giảm. Để đánh giá chất lượng protein trước tiên là dựa vào thành phần các acid amine, trong đó yếu tố quan trọng là các amine không thay thế. Chỉ số sử dụng pro­tein hữu hiệu bị ảnh hưởng của nhiều yếu tố: Hàm lượng protein, tuổi vật nuôi,giống vật nuôi, tỷ lệ protein, cân đối các acid amine, khoáng và vitamine.

Acid amine trong dinh dưỡng vật nuôi. Là đơn vị cấu tạo cơ bản của protein, acid amin là một nhóm hợp chất. Chúng là dẫn xuất của các acid hữu cơ mà trong phân tử một nguyên tử hydro (đôi khi 2 nguyên tử) của ankil được thay thế bởi gốc amin. Mỗi acid amin có cấu trúc chung gồm một nhóm amine (-NH2) và một nhóm carboxyl (- COOH). Nhóm amine của acid amine này có thể nối với nhóm carboxyỉ của acid amine khác, gọi là cầu nối pep- tit. Do đó, các acid amine được ghép thành các chuỗi; nếu chuỗi dài, được gọi là đa peptid (polypeptid), hàng trăm polypeptid lại được nối với nhau (cũng bằng các cầu nối peptid để thành phân tử protid. Các phân tử protein được phân biệt nhau ở chiều dài và thứ tự xắp xếp các acid amine. Cho tới nay, người ta đã tìm thấy hơn 250 loại acid amine (Lê Khắc Thận và cộng sự, 1991. Trích từ Tôn Thất Sơn, 2005). Có 20 loại acid amine để tạo nên mọi loại protein của mọi sinh vật; trong đó 12 loại, cơ thể sinh vật có khả năng tự tổng hợp – được gọi là “acid amine không thiết yếu; 8 acid amine còn lại cơ thể không thể tự tổng hợp mà phải lấy từ thức ăn, và được gọi là “acid amine không thay thế- thiết yếu. Nhiệm vụ của cơ quan tiêu hoá là: “bẻ gẫy” phân tử protein thành các acid amine làm nguyên liệu cho tổng hợp tế bào. Ngược lại; nhiệm vụ của cơ quan tổng hợp là: sắp xếp các acid amine thành protein đặc trưng của cơ thể. Quá trình này được kiểm soát bởi các “gene” của vật nuôi.

Trong 8 acid amine thiết yếu, có một số rất quan trọng, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng protein, chúng được gọi là acid amin giới hạn. Đó là lysine, methyonine, threonine, tryptophan. Nguồn thức ăn từ thực vật, sẽ giới hạn acid amine methyonine, sau đến lysine, nếu thức ăn có nguồn gốc động vật, thì giới hạn thứ nhất là threonine, nếu thức ăn chủ yếu từ hạt cốc, acid amine giới hạn thứ nhất là lysine, thứ hai là tryptophan. Nhưng nếu dư thừa acid amine giới hạn nào đó, sẽ gây giới hạn mới, làm mất cân bằng trong thức ăn.

Phân loại acid amine. Hiện đang tồn tại 2 quan điểm để phân loại acid amin (Lê Khắc Thận, 1991; Thomas, 1993. Trích từ Tôn Thất Sơn, 2005).

– Theo quan điểm hoá học: Gồm acid amine mạch thẳng và mạch vòng.

– Theo quan điểm sinh lý: Acid amine thay thế và không thay thế.

Người ta thấy: Nếu cho vật nuôi ăn bằng thức ăn có hàm lượng protein quá cao, chúng không những chẳng lớn nhanh mà ngược lại, bị chậm lớn, các chất thải sẽ gây ô nhiễm môi trường, lại lãng phí thức ăn. Trong sản xuất, giá cả của thức ăn tỷ lệ thuận với hàm lượng protein phối trộn. Cho nên để có được thức ăn vừa có chất lượng cao lại đảm bảo có tính cạnh tranh; hàm lượng protein trong đó phải tính kỹ sao cho vừa đủ. Công việc này đòi hỏi các nhà chuyên môn phải có hiểu biết nhất định khi lập công thức thức ăn. Đối với thức ăn cho cá, hàm lượng đạm tổng sổ từ 18 – 20% là kinh tế.

Cân bằng acid amin trong khẩu phần thức ăn vật nuôi.

+ Ý nghĩa của việc cân đối acid amin trong khẩu phần.

Cơ thể vật nuôi chỉ có thể tổng hợp được protein của nó theo “mẫu” cân đối (của mình) về acid amine (do các gene của chính vật nuôi quy định). Bởi vậy, khi sử dụng các khẩu phần được cân đối phù hợp với nhu cầu acid amine của vật nuôi thì sự sinh trưởng và sức sản xuất cao, hiệu quả sử dụng protein tốt, tiết kiệm được thức ăn. Hiệu quả này còn phụ thuộc vào tỷ lệ các acid amine thay thế và không thay thế của protein (Harper, 1964. Trích từ Tôn Thất Sơn, 2005). Khái niệm cân bằng acid amine có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong cân bằng dinh dưỡng vì:


  • Thứ nhất: Tất cả các acid amine cần thiết cho vật nuôi đều lấy từ thức ăn.
  • Thứ hai: Ngoại trừ một lượng nhỏ acid amine dùng cho mục đích đặc biệt, còn lại tất cả các acid amine được dùng chủ yếu để tổng hợp protein của cơ thể.
  • Thứ ba: Cũng là điều quan trọng là vì không cố sự dự trữ các acid amine trong cơ thể. Sự thiếu vắng của chỉ một acid amine không thay thế trong khẩu phần sẽ ngăn cản khả năng sử dụng các acid amine khác để tổng hợp Khi đó, acid amine được sử dụng như một nguồn cung cấp năng lượng. Điều đó, làm giảm sự ngon miệng, tính háu ăn, giảm sinh trưởng, cân bằng ni tơ bị âm nghiêm trọng, tức là mất protein của cơ thể (Rose, 1997. Trích từ Tôn Thất Sơn, 2005). Cân bằng acid amine bị phá vỡ sẽ làm giảm lượng thức ăn thu nhận và khả năng tăng trọng (Herper, 1964. Trích từ Tôn Thất Sơn, 2005).
Đọc thêm  Chọn vị trí đặt bè nuôi hàu Thái Bình Dương

Khái niệm về acid amine giới hạn.

Sự tổng hợp protein trong cơ thể sinh vật là quá trình “tất cả hoặc không có gì”: Nếu thiếu vắng bất kỳ một acid amine không thay thế nào cần thiết cho sự tổng hợp protein của cơ thể trong khẩu phần thức ăn, qụá trình sinh trưởng sẽ bị ngưng trệ. Có thể ví như khi xây nhà mà thiếu một trong các loại vật liệu cơ bản: xi măng, gạch, cát. Người ta gọi các acid amine thiết yếu trong khẩu phần thức ăn là “acid amine giới hạn” hay “yếu tố hạn chế. Như vậy, acid amine giới hạn là acid amine mà số lượng của nó thường thiếu so với nhu cầu, từ đó làm giảm giá trị sinh học của protein trong khẩu phần (Shimada, 1984. Trích từ Tôn Thất Sơn, 2005). Acid amine nào thiếu nhất và làm giảm hiệu suất sử dụng protein nhiều nhất, được gọi là acid amine giới hạn thứ nhất (yếu tố số 1). Theo cách lý giải này, những acid amine tiếp theo đó, ít thiếu hơn so với nhu cầu và với mức acid amine khác được gọi là acid amine giới hạn thứ hai. Có thể so sánh: Nhu cầu về các acid amine để tổng hợp protein của vật nuôi như một cái thùng gỗ đựng nước được làm từ nhiều miếng ván, mỗi miếng ván được coi là một acid amine không thay thế. Nếu tất cả các miếng ván đều có kích thước đầy đủ sẽ tương ứng với việc thoả mãn nhu cầu acid amine của con vật và hiệu quả sử dụng đạt tối đa. Người ta coi thùng nước được chứa đầy tương ứng với hiệu quả sử dụng 100%. Hình dạng và kích thước các miếng ván không như nhau, trong trường hợp chỉ cần một miếng ván (1 acid amine không thay thế) bị thiếu hụt thì sức chứa nước trong thùng (hiệu quả sử dụng protein) bị giảm, tỷ lệ suy giảm tương đương với mức thiếu hụt của miếng ván nào nhiều nhất. Tuỳ theo vị trí miếng ván ở đâu mà khả năng chứa nước của thùng đến mức đó. Nếu miếng ván ở đáy, thùng nước không bao giờ có thể chứa đầy.

Một số biện pháp nâng cao giá trị sinh học của pro­tein thức ăn:

+ Phối hợp các loại thức ăn với nhau: Chúng ta biết rằng: Mỗi loại thức ăn khác nhau thì khác nhau về tỷ lệ và số lượng các acid amine cấu tạo nên protein của chúng. Bởi vậy mỗi loại thức ăn sẽ thiếu (thừa) acid amine nào đó. Khi phối hợp nhiều loại thức ăn, các acid amine thiếu sẽ được cân bằng do chúng bổ sung cho nhau. Thí dụ như khi dùng đỗ tương làm thức ăn, thì acid amine giới hạn thứ nhất là methyonine, nếu dùng bột cá thì thiếu tryptophane. Khi nghiên cứu trên gà thịt, người ta thấy: Protein bột máu bò thiếu isoleucine, mặc dù có nhiều lysine và tryptophan. Trong khi bột mầm ngô lại nghèo lysine và tryptophan. Khi trộn 1 phần bột máu bò với 3 phần bột mầm ngô thì khẩu phần thức ăn đảm bảo cân đôi các acid amine, cho nên sinh trưởng của gà đã gia tăng 92% so với đối chứng.

Đỗ tương nghèo methyonine, nhưng giầu lysine. Trong khi vừng ngược lại: Giầu methyonie, nhưng nghèo lysine. Khi phối hợp 2 phần đỗ tương với 1 phần vừng thì sinh trưởng gà thịt gia tăng 100% so với cho ăn riêng lẻ.

+ Bổ sung acid amine tổng hợp. Các acid amine tổng hợp như L. Lysine, DL methyonine và gần đây là L. threonine và L. Tryptophan đã trở nên quen thuộc với người chăn nuôi. Các acid amine tổng hợp thu được bằng con đường tổng hợp hoá học hay phương pháp lên men sinh vật, đều có tác dụng như nhau. Với vật nuôi trên cạn, chỉ cần bổ sung lượng vừa đủ là đã cân bằng được dinh dưỡng. Đối với động vật thuỷ sản, cần lưu ý: Khi thả thức ăn xuống nước, nhiều acid amine bị tan trong nước, mất đi. Bởi vậy, khi sản xuất, cần phải có giải pháp để bảo tồn (chẳng hạn như bao phủ quanh viên thức ăn bằng màng dầu). Các chế phẩm acid amin tổng hợp bổ sung, do còn mới, nên được dùng chủ yếu cho nuôi lợn và gà, ít được dùng cho cá, các nghiên cứu về tiêu hoá và dinh dưỡng trên cá cũng hầu như còn là mảng trống vì chúng sông trong nước, nên khó bố trí thí nghiệm.

Ảnh hưởng của các mức protein thấp trong khẩu phần ăn được bổ sung acid amine tổng hợp đến sinh trưởng lợn thịt

Ảnh hưởng của các mức protein thấp trong khẩu phần ăn được bổ sung acid amine tổng hợp đến sinh trưởng lợn thịt

Xử lý nhiệt. Trong đỗ tương có các chất kháng trypsin: Kuniz kháng trypsin (T1- do Kuniz tách chiết trong đỗ tương vào năm 1954) và kháng Bowan-Brik- BB; do Bowman đề cập năm 1844. Năm 1961, Brik tổng kết các nghiên cứu này và tinh chế được BB. BB có thể kháng trypsine và chimotrypsine. Keshun Liu, 1999; trích từ Tôn Thất Sơn, 2003).

Các chất T1 và BB làm giảm hấp thu acid amine, gây sưng lách vật nuôi. Bames và Kwong, 1965 còn cho hay: Các chất kháng trypsine kích thích chuyển methyonine- S35 thành cystine-S35 ở lách, làm cho vật nuôi thiếu methyonine, trong đỗ tương sống, còn có protein làm đông kết hồng cầu ở chuột, gây giảm sinh trưởng (Tôn Thất Sơn; 2003). Để khử các chất có hại trong đỗ tương sống, người ta thường xử lý nhiệt trước khi cho vật nuôi ăn bằng các phương pháp: Rang, hấp, sấy hồng ngoại. Công nghệ ép đùn có thể khử kháng trypsin, làm tăng giá trị sinh học của đỗ tương. Tuy nhiên, cần chú ý giữ cho đỗ không bị cháy, không bị sượng (chưa chín). Đỗ còn sượng là còn chất kháng trypsin; ngược lại, đỗ bị cháy, có màu nâu, sẽ bị khét, giảm tính ngon miệng, giảm lượng thức ăn thu nhận. Nguyên nhân này là do trong hạt còn có hydrat carbon khử như glucose, chúng tác động rất nhanh với acid amine tự do của protein. Lysine, arginine, histidin và tryptophan có những nhóm phản .ứng kết hợp với glucose tạo thành liên kết bền vững không tiêu hoá, được gọi là phản ứng “Maillard” (Tôn Thất Sơn, 2003).

Trong thực tế sản xuất, người ta thường phối hợp cả 3 phương pháp: phôi trộn nhiều loại thức ăn với nhau; bể sung acid amne tổng hợp và xử lý đỗ tương bằng nhiệt để làm tăng giá trị sinh học của thức ăn.

Ảnh hưởng của các quá trình xử lý đỗ tương bằng nhiệt tới sinh trưởng gà con

Ảnh hưởng của các quá trình xử lý đỗ tương bằng nhiệt tới sinh trưởng gà con

Tác dụng của đỗ tương xử lý nhiệt và bổ sung acid amine tổng hợp đến sinh trưởng của gà thịt

Tác dụng của đỗ tương xử lý nhiệt và bổ sung acid amine tổng hợp đến sinh trưởng của gà thịt

* PER: Tỷ lệ hữu hiệu cửa protein: Khối lượng tăng thịt (g)/khối lượng protein ăn vào (g).

Nguồn: Miles và Featherston, 1976. Trích từ Tôn Thất Sơn, 2003.

Những nguồn acid béo quan trọng

Những nguồn acid béo quan trọng

Hydratcacbon

Là loại vật chất “vô đạm” (không chứa đạm). Hydratcacbon có 4 loại chính là đường đơn (như glucose, fructose, arabinose, cylose, ribose, galactose, manose), đường đôi (disacarit),đường ba (trisacaưid) và đa đường (polysacarrid). Gồm 2 nhóm cơ bản: Chất tinh bột, có trong các loại hạt cốc (70 – 75%), các loại củ giàu bột như khoai, sắn (có tới 80 – 85%). Trong thức ăn có nguồn gốc động vật, chỉ có tới 1% chất vô đạm, và nhóm cơ bản thứ hai là nhóm chất đường, có ở đường ăn (saccharoza, glu­cose), đường quả (fructose), mía, hạt cốc, hoa quả, củ có đường. Trước đây, người ta sản xuất thức ăn dựa trên nguyên tắc: Hydrat cac bon (chủ yếu là gluco) là nguồn cung cấp năng lượng chính cho cơ thể. Khi thức ăn không cung cấp đủ glucose thì có thể được lấy từ nguồn khác như glycogen (dự trữ trong gan và cơ), lipid, protein. Bởi vậy, người ta dùng hydratcacbon như “than” đốt để cung cấp năng lượng cho cơ thể. Dựa trên nguyên tắc này, trước đây, thức ăn được sản xuất có thành phần chính là hydratcacbon, cho nên khối lượng thức ăn thường lớn.

Bạn có muốn nhận nội dung tương tự Thủy sản qua email không?