Các giống thỏ hiện nay

Hình đại diện Các giống thỏ hiện nay
Hình đại diện Các giống thỏ hiện nay

Các giống thỏ nhà trên thế giới hiện nay đều có nguồn gốc từ thỏ rừng (Orytolaguc cuniculus) thuộc Họ thỏ nhà và thỏ rừng (Leporidae), trong Bộ gặm nhấm riêng biệt có răng cửa kép (Lagomorpha), của Lớp động vật có vú (Mammalia)

Sự thuần hóa

Các giống thỏ nhà trên thế giới hiện nay đều có nguồn gốc từ thỏ rừng (Orytolaguc cuniculus) thuộc Họ thỏ nhà và thỏ rừng (Leporidae), trong Bộ gậm nhấm riêng biệt có răng cửa kép (Lagomorpha), của Lớp động vật có vú (Mammalia). Nói chung sự thuần hoá thỏ rừng thành thỏ nhà chỉ khoảng vài trăm năm gần đây.

Thỏ Leporidae

Thỏ Leporidae

Thỏ rừng ở Châu Âu được phát hiện bởi những nhà ngữ âm học khi họ đến bờ biển Tây Ban Nha vào năm 1000 trước công nguyên. Thỏ là biểu tượng của Tây Ban Nha vào thời kỳ La Mã. Từ đầu thế kỷ 19 việc nuôi chúng đã phát triển khắp Tây Âu và được người Châu Âu đưa những con vật này đi du nhập ở tất cả các nước trên thế giới. Cuối thế kỷ 19 và nhất là đầu thế kỷ 20 cùng với phương pháp nuôi nhốt cùng với các giống thỏ đã thích nghi với điều kiện nuôi nhốt đã được chọn lọc và thay đổi dần về ngoại hình, sinh lý thích nghi với hoàn cảnh cụ thể và khả năng sản xuất phù hợp với nhu cầu thâm canh cùng với các kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến đáp ứng nhu cầu sản xuất và lợi nhuận, bệnh tật của thỏ ngày càng được nghiên cứu và khống chế cũng như là có thể điều trị và phòng ngừa được càng ngày càng phát triển với mục đích sản xuất thịt thỏ để làm động vật thí nghiệm và làm sinh vật cảnh.

Các giống thỏ

Hiện nay chăn nuôi thỏ khá phát triển chủ yếu là nuôi hướng thịt hoặc nuôi kiêm dụng lấy thịt và lông len. Do vậy có nhiều giống lớn con dùng sản xuất thịt ở Châu Âu, Châu Mỹ và một số giống thỏ nhỏ con ở các nước nhiệt đới phát triển tại địa phương hay từng quốc gia. Bên cạnh đó cũng có một số giống chuyên sản xuất lông len chủ yếu là ở nước ôn đới. Nuôi thỏ hướng thịt thường chọn giống có tầm vóc khá lúc trưởng thành có trọng lượng 4,5 đến 5 kg; cũng chú ý những giống này có bộ xương nhỏ có tỷ lệ thịt xẻ cao. Một cách chung nhất người ta chia chúng dựa theo tầm vóc: nhóm nặng ký (Trọng lượng trưởng thành hơn 5kg) như Bouscat Giant White, French và French Giant Pabillon; nhóm trung bình (Trọng lượng trưởng thành hơn 3,5-4,5 kg) như Californian, New Zealand White, Grand Chinchilla,… nhóm nhẹ cân (trọng lượng trưởng thành từ 2,5-3kg) như Small Chinchilla, Duch and French Havana, Himalayan,… và nhóm nhỏ con (trọng lượng trưởng thành hơn 1kg). Dưới đây là một số giống thỏ hướng thịt chủ yếu và phổ biến ở Việt Nam:

Thỏ NewZeland trắng

Thỏ NewZeland trắng

Thỏ NewZeland trắng

Giống này được nuôi ở nhiều nước và phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, ở Việt Nam do khả năng thích nghi với các điều kiện sống cao. Giống này có toàn thân màu trắng, lông dày, mắt đỏ như hòn ngọc, có tầm vóc trung bình, thỏ trưởng thành nặng khoảng 4,5 – 5 kg. Mỗi năm chúng đẻ trung bình 5 – 6 lứa, mỗi lứa đẻ trung bình từ 6 -7 con.

Như vậy đối với giống này một con cái trung bình cho 20 – 30 con/năm. Thỏ cai sữa thường được nuôi vỗ béo đến 90 ngày tuổi thì giết thịt. Như vậy môt con mẹ trong một năm có thể sản xuất từ 30 – 45 kg trọng lượng sống nếu nuôi tốt có thể đạt 60 – 90 kg và thêm từ 20 – 30 tấm lông da.

Thỏ Californian

Thỏ Californian

Thỏ Californian

Giống này được tạo ra và phát triển từ Mỹ (khoảng 1920) từ 2 giống NewZealand White và Himalyan và sau đó có sự tham gia của giống Chinchilla với mục đích tạo ra giống có thịt và len có chất lượng cao. Chúng được nhập vào từ Anh lần đầu tiên vào năm 1958. Tuy nhiên đến năm 1960 mới công bố chính thức với số lượng 400 con.

Đây là giống tạo ra được lợi tức cao cho người nuôi thỏ thương phẩm. Đặc điểm của giống này là có bộ lông màu trắng tuyết, trừ hai tai thỏ có màu đen, mũi, đuôi và 4 chân có màu tro hoặc màu đen. Con trưởng thành có trọng lượng 4 – 4,5 kg, con đực nặng từ 3,6 – 4,5 kg con cái nặng 3,8 – 4,7 kg. Mỗi năm chúng đẻ khoảng 5 lứa, mỗi lứa khoảng 5-6 con. Giống này đã nhập

vào nước ta ở Sơn Tây (1977) và đã thích nghi với điều kiện khí hậu và nuôi dưỡng chăm sóc. Thỏ Californian có tầm vóc trung bình, tỷ lệ thịt xẻ cao từ 55 – 58 % chúng được nuôi phổ biến trên thế giới và đã trở thành giống thỏ thịt đứng thứ hai trên thế giới (Sandford, 1996). Tuy nhiên qua thử nghiệm 3 năm nuôi ở ĐBSCL với các loại thức ăn thông thường, giống thỏ thuần Californian tương đối khó nuôi, đẻ kém và tỉ lệ con con hao hụt cao so với thỏ thuần New Zealand.

Thỏ Chinchilla

Thỏ Chinchilla lần đầu tiên được trình diễn tại Pháp 1913 bởi J.J. Dybowski được tạo ra từ thỏ rừng và 2 giống Blue Beverens và Himalyans được xem như là giống cho len. Giống này có 2 dòng một có trọng lượng 4,5 – 5 kg (Chinchilla giganta) và dòng kia 2 – 2,5 kg lúc trưởng thành. Giống này đẻ trung bình mỗi lứa từ 6 – 8 con có khả năng thích nghi với các điều kiện chăn nuôi khác nhau. Thỏ có lông màu xanh, lông đuôi trắng pha lẫn xanh đen, bụng màu trắng xám đen.

Thỏ English Spot

Thỏ English Spot

Thỏ English Spot

Giống English Spot có tầm vóc trung bình trọng lượng trưởng thành 2,5 – 3,5 kg ở cái và đực, được chọn lọc và phát triển ở Anh quốc. Nó có đặc điểm là thân có màu lông trắng với các đốm màu xậm ở trên cơ thể, tai thẳng đứng, mông rộng tròn và hơi lớn hơn phần vai, chân dài và mảnh khảnh. Giống này được nhận biết với các đốm xậm màu ở 2 vòng mắt, má và tai, sóng lưng và đuôi. Các đốm này có màu sắc phổ biến là đen, xanh dương, sô cô la, nâu, vàng, v..v.. Giống này hiện nay cũng tham gia vào máu của con thỏ lai ở Việt Nam khá phổ biến.