Kỹ thuật trồng mạnh tông

Mạnh tông có tên khác: Bương, Tre măng ngọt, Mạy puốc đeng.

Tên đồng nghĩa: Bambusa aspera Schult f., 1830; Dendrocalamus flagellifer Munro, 1866; D. merrilinianus Elmer., 1915; Gigantochloa aspera (Schult. f.) Kurz., 1876.

Tên thương phẩm: Giant bamboo.

Sản phẩm: chủ yếu lấy mãng làm thực phẩm, kết hợp lấy thân khí sinh làm vật liệu xây dựng và sản xuất bột giấy.

Đặc điểm hình thái

Thân ngầm dạng củ, thân khí sinh mọc cụm thành bụi khá dầy, thân thẳng đứng với ngọn dài và hơi rủ, chiều cao từ 15 – 20m, có khi cao tới 30m, đường kính trung bình từ 8 – 12cm, có khi tới 20cm, các đốt ở gần gốc thường có vòng rễ khí sinh; chiều dài lóng từ 30 – 50cm hoặc hơn, lóng ngắn nhất cũng khoảng 10cm; vách lóng dày từ 1,1 – 3,6cm; ở gần gốc đôi khi đặc (không rỗng), lúc non có lông gai nhỏ màu nâu nhạt và phủ lớp phấn trắng mỏng; đốt vồng hơi cao, trên và dưới vồng đốt đều có một vòng lông nhung màu nhạt, đốt ở dưới thấp nhất có vòng rễ khí sinh (Đỗ Văn Bản,2005b).

manh tong

Cây thường phân cành cao, bắt đầu từ đốt thứ 9 hoặc đốt ở giữa thân mới có cành, mỗi đốt có nhiều cành mọc cụm, cành chính tương đối rõ. Bẹ mo rụng sớm, chất da, lúc tươi màu lục nhạt, mặt lưng có lông gai nhỏ ép sát, màu trắng xám đến nâu, sau khi khô màu nâu nhạt, đầu hình cung tròn, tai mo hình tam giác hẹp, dài 2cm, rộng khoảng 7mm, gấp dạng sóng, phía đầu hơi mở rộng và gần hình tròn, mép có mấy chiếc lông mi dạng sóng cong dài tới 6mm; lưỡi mo nổi lên, cao 7 – 10mm, mép đính lông tua màu nâu dài từ 3 – 5mm; phiến mo hình lưỡi mác, thường lật ra ngoài, hai bên gốc thu hẹp vào trong, gấp nhăn dạng sóng. Cành nhỏ mang từ 7 – 13 lá, bẹ lá lúc đầu có lông gai nhỏ ép sát, về sau trở nên nhẵn, tai lá nhỏ, lông mi miệng bẹ mấy chiếc; lưỡi lá cao khoảng 2mm, mép nguyên hay xẻ răng nhỏ; phiến lá hình lưỡi mác đến hình mác, dài trung bình từ 20 – 30cm, rộng từ 3 – 5 cm, mặt dưới phủ lông mềm, gân cấp hai từ 7 – 11 đôi, gân ngang nhỏ hơi rõ, mép lá một bên ráp, một bên hơi ráp, cuống lá dài từ 2 – 7mm. Cụm hoa không lá, dài tới 50cm, mỗi đốt có ít đến nhiều bông nhỏ; bông nhỏ dẹt, dài từ 6 – 9mm, rộng khoảng 4mm, chứa 4 hay 5 hoa lưỡng tính và một hoa thoái hoá ở đỉnh; mày ngoài hình trứng rộng, càng lên phía trên càng dài, dài nhất là 8mm, lưng có lông nhỏ, phần trên của mép có lông mảnh; mày trong dài bằng mày ngoài, lưng có 2 gờ , giữa các gờ có 2 – 3 gân, trên gờ và mép đều có lông mảnh, mày trong của hoa nhỏ trên cùng bị thoái hoá, trên gờ không có lông mảnh, nhưng khoảng giữa các gờ có lông ráp; bao phấn dài 3 – 5mm (hoa nhỏ phía trên dài nhất), đầu có mũi nhọn ngắn, không lông; bầu và vòi đều phủ lông nhỏ, đầu nhuỵ 1, dạng lông vũ.

Phân bố và đặc tính sinh thái

Phân bố hoặc nguồn gốc

Tre Mạnh tông có phân bố tự nhiên ở một số quốc gia châu Á, nhất là khu vực Đông Nam Á như: Lào, Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ, Myanmar, Indonesia, Philippin, Trung Quốc và Việt Nam. số liệu thống kê từ năm 1995, Thái Lan đã trồng loài tre này với diện tích khoảng hơn 6.000ha. Hiện nay có nhiều ý kiến cho rằng tre Mạnh tông có nguồn gốc từ khu vực Đông Nam Á, Việt Nam có thể là quê hương của tre Mạnh tông, vì ở đây nó đã được trồng từ rất lâu đời. Đặc biệt, gần đây đã phát hiện loài tre này mọc tự nhiên ở một số thung lũng đá vôi thuộc vùng núi phía Bắc của tỉnh Thanh Hoá, nơi giáp với Ninh Bình. Trước đây loài tre này được trồng nhiều ở vùng Trung du và Đồng bằng Bắc bộ như Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Bắc Giang, Hoà Bình, Ninh Bình, Thái Bình, Thanh Hoá và Nghệ An. Ngoài ra, tre Mạnh tông cũng đã được trồng ở các tỉnh vùng Đông Nam bộ như Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tp. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Long An và Cà Mau (Đỗ Văn Bản, 2011). Trong thực tế, loài tre này thường được trồng phân tán từng khóm trong vườn hộ gia đình, xung quanh vườn, ở Thái Bình thì trồng thành từng hàng ở ven đê, ở Hạ Hoà (Phú Thọ) được trồng thuần loài thành từng đám (Triệu Văn Hùng và cộng sự, 2007).

Một số đặc điểm sinh thái

Tre Mạnh tông chủ yếu phân bố ở vùng khí hậu nhiệt đới mưa mùa, độ cao dưới 1.500m so với mực biển, nhưng thích hợp nhất ở độ cao từ 400 – 600m; lượng mưa từ 2.000 – 2.500mm. Ở Indonesia, tre Mạnh tông sinh trưởng tốt ở độ cao từ 400 – 1.500m với khí hậu ấm áp, nhưng cũng có thể chịu được lạnh từ âm 2°c đến âm 4°c trong điều kiện không có băng giá. Tre Mạnh tông có thể trồng được trên nhiều loại địa hình và đất đai khác nhau, nhưng thích hợp hơn ở những nơi có địa hình đồi thấp, từ đất cát pha đến đất thịt, thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình và đến nặng nhưng thoát nước tốt. Đặc biệt, loài cây này rất thích hợp và sinh trưởng tốt ở chân núi hoặc thung lũng núi đá vôi như ở Hoà Bình, Ninh Bình và Thanh hoá, ở những nơi này kích thước thân khí sinh có thể đạt tối đa cả về đường kính và chiều cao, đường kính thân cây đạt tới 20cm, chiều cao cũng đạt gần 20m. Măng xuất hiện khi bắt đầu có mưa và trưởng thành trong khoảng từ 2 – 3 tháng. Cành nhánh phát triển đều khi thân khí sinh đạt chiều cao tối đa, cây thành thục công nghệ cũng như sinh lý ở giai đoạn từ 3 – 4 năm tuổi, đây cũng là tuổi tốt nhất để khai thác thân khí sinh. Bụi tre trưởng thành và cây trong bụi đạt chiêu cao, đường kính tôi đa sau khi trông khoảng 5 – 6 năm. Khả năng sinh măng của loài tre này khá mạnh và có thể ra nhiều đợt trong một vụ.

Kỹ thuật tạo giống

Cũng như các loài tre đã nêu ở trên, tre Mạnh tông có thể nhân giống chủ yếu bằng phương pháp vô tính với 3 loại vật liệu: hom gốc, hom cành và hom chét.

Tạo giống hom gốc

– Chọn hom gốc:

Chọn những cây bánh tẻ từ 12 – 18 tháng tuổi ở phía ngoài bụi tre để dễ đánh gốc, thân khí sinh không bị cụt ngọn, không sâu bệnh, chưa bị khuy, phát triển tốt.

– Tạo hom gốc:

Dùng dụng cụ chuyên dùng (cuốc, thuổng) để đào bới cho lộ toàn bộ thân ngầm, dùng dao sắc chặt đứt cổ thân ngầm nơi tiếp giáp với gốc cây mẹ, cắt bớt rễ, chỉ để dài từ 2 – 3 cm. Phần thân khí sinh cùng với thân ngầm dài khoảng 0,7 – 1,5m và trên thân khí sinh phải có từ 3 – 4 đốt (mắt). Sau khi tạo giống trồng ngay là tốt nhất, hoặc hom gốc được giâm trong vườn ươm đến khi mọc cành nhánh mới thì đem trồng.


– Thời vụ tạo hom gốc:

Ở các tỉnh miền Bắc có thể tiến hành tạo hom gốc để trồng từ tháng 2 đến tháng 4, ở các tỉnh miền Trung từ tháng 8 đến tháng 11, ở miền Nam và Tây Nguyên từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm.

Tạo giống bằng phương pháp chiết cành

– Chọn cành chiết

Chọn những cây bánh tẻ, sinh trưởng tốt, không sâu bệnh và không cụt ngọn. Trên cây đó, chọn những cành bánh tẻ khỏe mạnh, đã ra đủ lá, màu xanh thâm, có rễ màu xanh nhạt, đâu rễ màu hơi trăng, nhât là những cành ở gân gôc, có gốc cành to (gọi là đùi gà), đường kính gốc cành từ 1cm trở lên.

Đọc thêm  Kỹ thuật trồng mai xanh - Dendrocalamus latiflorus

– Chiết cành:

Dùng dụng cụ chuyên dùng cắt bỏ ngọn cành, chỉ để lại 2 – 3 lóng cùng với 2 – 3 đốt ở gần gốc cành, cắt vát một góc khoảng 45 độ ở giữa lóng ngoài cùng, tránh làm giập nát đoạn hom để lại, bóc bỏ các mo còn dính ở phần hom cành, dùng cưa cắt tại chỗ tiếp giáp giữa đế cành với thân cây mẹ theo hướng từ trên xuống đến khoảng 2/5 đường kính đế cành, cắt từ dưới lên khoảng 1/5 đường kính đế cành. Dùng hỗn hợp đất làm nhuyễn gồm từ 70 – 80% đất mùn kết hợp với từ 20 – 30% sơ dừa (khoảng 150 – 200 gam), đắp kín gốc cành, dùng vải nilon bó bên ngoài tạo thành bầu đất, dùng dây nilon hoặc lạt tre buộc kín 2 đầu, chọc thủng một vài lỗ để thoát nước. Ngoài ra, có thể sử dụng một số chất kích thích ra rễ như IBA, IAA, NAA nồng độ 1.500ppm quét vào vị trí “đùi gà” trước khi bó đất để kích thích ra rễ nhanh hơn. Sau từ 30 – 40 ngày khi rễ đã phát triển ra đến phía ngoài bầu đất, khi rễ có màu trắng chuyển sang màu vàng thì cắt cành đưa về vườn ươm để giâm.

Có thể tạo bầu mới để giâm hom với kích thước là 16 x 20cm hoặc 18 x 22cm. Hỗn hợp ruột bầu gồm 90% đất tầng mặt kết hợp với 9% phân chuồng hoai và 1% Super lân. Lột bỏ lớp nilon bó bầu khi chiết và đưa hom vào bầu đất đã chuẩn bị sẵn để ươm. Cây giống ươm trong vườn ươm lúc đầu cần che sáng từ 70 – 75%, sau khi ra lá mới có thể giảm chỉ còn từ 30 – 40 %, trước khi đem trồng từ 1 – 2 tháng thì dỡ bỏ dàn che hoàn toàn. Thường xuyên tưới nước, tỉa cành (chỉ để từ 1 – 2 cành khỏe). Có thể bón thúc hai lần cho cây trong vườn ươm, dùng 15g N kết hợp 5g p và 5g K hòa tan trong 10 lít nước tưới cho 1m² bầu, lần thứ nhất bón sau từ 20 – 30 ngày kể từ khi ươm, lần thứ hai bón sau từ 50 – 60 ngày kể từ khi ươm, tức là cách lần bón thứ nhất từ 30 – 40 ngày. Khi cành chiết ra lá xanh tốt, rễ phát triển đầy đủ, có một măng nhỏ ra đủ lá thì có thể xuất vườn đem trồng.

– Thời vụ chiết cành:

Ở vùng Đông Bắc bộ thường chiết cành vào khoảng tháng 2 đến tháng 4 và tháng 7 đến tháng 9 hàng năm. ở Bắc Trung bộ thường chiết cành vào tháng 8 đến tháng 11 và Đông Nam bộ thường chiết cành vào tháng 5 đến tháng 9 hàng năm. Ngoài ra, nên chiết cành vào buổi sáng và những ngày râm mát.

Tạo giống hom chét

– Chọn cành chét

Hom chét là những cành lớn hoặc thân khí sinh nhỏ mọc từ gốc cây mẹ ở vị trí sát mặt đất, thực chất đây cũng có thể gọi là hom cành nhưng chúng thường có đường kính lớn hơn hom cành. Chọn những bụi tre có nhiều thân khí sinh to khỏe, không cụt ngọn, chưa có hiện tượng khuy. Trong những bụi tre đó, chọn những chét là những cành hoặc thân đã phát triển đầy đủ lá, phần gốc có rễ màu trắng phớt xanh ở sát gốc, đầu rễ màu hơi trắng. Chét càng to càng tốt, sau khi tách hom chét khỏi gốc cây mẹ có thể đem trồng ngay như trồng bằng giống hom gốc, hoặc có thể ươm vào bầu ở vườn ươm như đối với hom cành chiết rồi mới đem trồng.

– Tạo hom cành chét:

Dùng dao sắc cắt bỏ phần ngọn, chỉ giữ lại 1 đoạn gốc có từ 2 – 3 đốt có các mắt sống, chúng có khả năng nẩy chồi, nếu trên các mắt giữ lại có các cành thứ cấp và có lá cần giữ lại lá; dùng cưa hoặc dao sắc cắt rời cành chét ra khỏi gốc cây mẹ, tránh không được làm dập vỡ cành chét. Có thể giâm cành chét trên vào các rãnh sâu từ 20 – 25cm hoặc giâm trong bầu đất đã đóng sẵn như giâm hom cành chiết ở phân trên. Nhân giống băng hom cành và hom chét thường có hệ số nhân cao hơn hom gốc, khi vận chuyển giống đi trồng cũng tốn ít công hơn, nhưng trồng bằng hom cành và hom chét sẽ chậm hơn so với trồng bằng hom gốc, thường từ 6 – 8 năm mới cho khai thác ổn định, trong khi đó trồng bằng hom gốc chỉ từ 4 – 5 năm (Đỗ Văn Bản, 2011).


– Thời vụ tạo hom cành chét

Ở vùng Đông Bắc bộ có thể tạo giống bằng cành chét vào khoảng tháng 2 đến tháng 4 hoặc tháng 7 đến tháng 9 hàng năm. Ở Bắc Trung bộ vào tháng 8 đến tháng 11 và Đông Nam bộ vào tháng 5 đến tháng 9 hàng năm. Thời điểm tiến hành cắt cành chét vào buổi sáng và những ngày râm mát.

Kỹ thuật trồng

– Chọn đất và nơi trồng:

Tre Mạnh tông thích hợp trồng ở những nơi có khí hậu nhiệt đới mưa mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 25 – 27°C, lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.000 – 2.500mm, độ ẩm không khí trên 80%. Đồng thời tre Mạnh tông thích hợp với địa hình đồi núi và trên các loại đất cát pha hoặc đất thịt có thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình, thoát nước tốt, độ pHkci ~ 4 – 4,5, độ dầy tầng đất > 50cm; độ cao dưới 1.500m so với mực biển, nhưng thích hợp nhất ở độ cao từ 400 – 600m; độ dốc dưới 20 độ, nhưng thích hợp hơn là dưới 15 độ.

– Thời vụ trồng.

Ở các tỉnh thuộc vùng Đông Bắc bộ có 2 vụ trồng chính, tốt nhất là vụ Xuân (từ tháng 2 đến tháng 3), hoặc vụ Thu (từ tháng 8 đến tháng 9). Vùng Bắc Trung bộ chủ yếu trồng vào vụ Thu – Đông (từ tháng 8 đến tháng 11). Vùng Đông Nam bộ chủ yếu vụ Hè – Thu (từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm).

– Phương thức và mật độ trồng:

Phương thức trồng tre Mạnh tông chủ yếu là trồng thuần loài với mật độ là 400cây/ha (5 x 5m), tức là tâm bụi nọ cách tâm bụi kia khoảng 5m, tâm hàng nọ cách tâm hàng kia khoảng 5m.

– Xử lý thực bì:

Chủ yếu xử lý thực bì bằng phương pháp thủ công, dùng dao phát toàn bộ thực bì trên diện tích đã thiết kế, phát dọn tươi không được đốt, thu gom xác thực vật xếp thành hàng xen kẽ giữa các hàng dự kiến đào hố trồng hoặc băm nhỏ rải đều trên diện tích. Nếu ở nơi có địa hình dốc thì xử lý thực bì theo băng, băng chặt có thể trồng được từ 1 – 5 hàng cây, băng chừa không phát thực bì có thể rộng từ 2 – 3m (nhằm hạn chế xói mòn đất), đào hố trên băng chặt theo đường đồng mức. Khi cây trồng đã khép tán có thể tiếp tục trồng bổ sung vào băng chừa.

– Làm đất và bón lót.

Cuốc hố bằng phương pháp thủ công, kích thước hố thường là 40 x 40 x 40cm. Trên đất dốc, hàng được bố trí theo đường đồng mức, hố trên các hàng được bố trí so le theo hình nanh sấu, trên đất bằng bố trí thẳng hàng. Khi đào hố lớp đất mặt để riêng một bên, lớp đất đáy để riêng một bên. Bón lót mỗi hố từ 10 – 20kg phân chuồng hoai hoặc 2kg phân hữu cơ vi sinh kết hợp với 0,5kg NPK (5:10:3), gạt lớp đất mặt xuống trước và trộn đều với phân trong hố, tiếp tục gạt lớp đất đáy lên trên cho đầy hố và vun cao hơn mặt đất tự nhiên từ 2 – 3 cm. Công việc này phải hoàn thành trước khi trồng ít nhất 15 ngày.

Đọc thêm  Kỹ thuật trồng Lục trúc - Bambusa oldhamii

– Kỹ thuật trồng:

Vào đầu mùa mưa, khi đất đã đủ ẩm, chọn ngày mưa nhỏ trời mát hoặc nắng nhẹ để trồng cây. Đào ở giữa hố một lỗ sâu hơn chiều cao của bầu đất hoặc thân ngầm của hom gốc, bóc bỏ vỏ bầu (nếu là cây có bầu), đặt cây giống vào lỗ sao cho thật ngay ngắn và cây thẳng đứng, nếu trồng bằng hom gốc thì đặt gốc tre nghiêng khoảng 45 độ về cùng một phía hoặc hướng lên dốc sao cho hai hàng mắt quay ra 2 bên, dùng đất nhỏ mịn lấp đầy hố và nén chặt xung quanh. Sau khi trồng xong cần phủ cỏ rác hoặc rơm rạ để giữ ẩm cho gốc tre mới trồng. Trước và sau khi trồng cây, cần phòng trừ mối gây hại bằng cách rải thuốc Basudin, Coníidor… trong hố và trên mặt đất quanh gốc cây.

Kỹ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng rừng trông

– Trồng dặm:


Sau khi trồng được 1 – 2 tháng cần tiến hành kiểm tra và trồng dặm vào vị trí những cây bị chết, hoặc trồng thay thế những cây có nguy cơ bị chết bằng những cây giống đủ tiêu chuẩn như khi trồng chính đã dự phòng trong vườn ươm.

– Kỹ thuật chăm sóc rừng:

Rừng trồng tre Mạnh tông cần chăm sóc 3 năm liên tục kể từ khi trồng. Năm thứ nhất, nếu trồng vụ Xuân thì chăm sóc 3 lần, nếu trồng vụ Hè – Thu thì chăm sóc 2 lần, nếu trồng vụ Thu – Đông chỉ cần chăm sóc 1 lần kết hợp phòng chống cháy rừng trong mùa khô. Các năm thứ 2 và thứ 3, mỗi năm chăm sóc 3 lần, thời điểm chăm sóc chủ yếu vào giữa mùa Hè, giữa mùa Thu và mùa Đông hoặc đầu mùa Đông. Nội dung chăm sóc chủ yếu là phát dọn thực bì như dây leo, cây bụi, làm cỏ trên toàn bộ diện tích trồng tre, xới xáo quanh gốc và vun đất xung quanh gốc tre trong phạm vi đường kính từ 1 – 1,5m, chiều cao khi vun không quá 5cm. Hàng năm bón phân hai lần, lần 1 vào tháng 2 đến tháng 3, lần 2 vào tháng 7 đến tháng 8 hàng năm. Lượng phân bón gồm 4 – 5kg phân hữu cơ vi sinh kết hợp 0,5 kg phân NPK (5:10:3) cho mỗi gốc. Dùng cuốc đào rãnh xung quanh khóm tre sâu từ 15 – 20cm, rộng từ 20 – 25cm, cách các cây trong khóm khoảng từ 20 – 30cm, rải đều phân và vun đất lấp kín phân trong rãnh.

– Kỹ thuật nuôi dưỡng rừng.

Hàng năm cần chặt vệ sinh cho rừng trồng tre Mạnh tông, thời gian tiến hành từ tháng 11 năm trước đến tháng 2 năm sau. Chặt hết những cây già, những cây bị sâu bệnh, những bụi có hiện tượng khuy. Bới hở gốc những cây cần chặt, dùng dao sắc chặt sát gốc, dọn sạch cây và cành nhánh ra khỏi rừng. Chọn cây mẹ để lại là những cây bánh tẻ khỏe mạnh, phân bố đều trong khóm, số lượng cây để lại từ 6 – 8 cây/khóm là vừa.

– Phòng trừ sâu bệnh hại

Tre Mạnh tông nhìn chung ít sâu bệnh hại hơn các loài tre khác, một số loài sâu bệnh hại thường gặp như mối, sâu Vòi voi, bệnh thối măng, bệnh chổi xể. Đối với mối chủ yếu gây hại ở giai đoạn mới trồng, để phòng trừ mối thường sử dụng thuốc Basudin hoặc Confidor rải vào hố trước khi trồng và rải trên mặt đất xung quanh gốc cây sau khi trồng. Sâu Vòi voi chủ yếu gây hại cho măng, biện pháp chủ yếu là tìm và diệt nhộng và sâu trưởng thành bằng cách cuốc xới đất xung quanh gốc rộng 1m, sâu 15 – 20cm, khi ấu trùng đã chuyển hoá thành sâu non trong thân măng, có thể dùng các loại thuốc trừ sâu nội hấp để phun hoặc quét lên măng, sử dụng một trong những loại thuốc như Padan 4H, Basudin 10H rắc xung quanh gốc tre. Bệnh thối măng do nấm gây hại, nhất là trong mùa mưa, các bào tử nấm phát tán trong đất có thể xâm nhiễm và gây hại thông qua các vết thương cơ giới, có thể sử dụng các loại thuốc Ridomil Gold®, Aliette 89 WP để phun vào gốc các bụi tre bị nhiễm nấm. Bệnh chổi xể cũng do nấm gây ra, đây là loại bệnh nguy hiểm, cần chặt bỏ cả bụi tre và đốt để tránh lây nhiễm, nếu bị bệnh nhẹ có thể sử dụng dung dịch thuốc Boóc đô 1% phun vào gốc. Trường hợp có sâu cuốn lá dùng thuốc Nitox 1/1000 phun trên toàn bộ diện tích có sâu hại xuất hiện.

Kỹ thuật khai thác và sử dụng

– Công dụng và năng suất:

Tre Mạnh tông là loài sinh trưởng nhanh, măng loài tre này thuộc loại thực phẩm ngon, ngọt, có giá trị và được nhiều người ưa chuộng, năng suất măng cũng như thân khí sinh khá cao, bình quân 1ha rừng trồng loài tre này có thể cho thu hoạch khoảng 10 tấn măng tươi và 400 thân cây tre già mỗi năm (Đỗ Văn Bản, 2005a). Vì thế, sản phẩm của loài tre này chủ yếu là măng làm thực phẩm, nhưng thân cây làm vật liệu xây dựng, sản xuất bột giấy và ván ghép thanh cũng không kém phần quan trọng.

– Kỹ thuật khai thác măng:

Vụ khai thác chính từ tháng 6 – 7, khi măng nhú khỏi mặt đất từ 25 – 30cm thì khai thác, thường khai thác vào buổi sáng sớm, dùng cuốc hay thuổng đào bới cho lộ toàn bộ thân ngầm của măng, sử dụng dao sắc để cắt măng, vị trí cắt măng là nơi phình ra to nhất của măng thường nằm dưới mặt đất, chừa lại phần thân ngầm gần gốc cây mẹ có khoảng 3 – 4 mắt để sinh măng, vết cắt phẳng và nhẵn, không dập nát, không được cắt ngang gốc măng trên mặt đất, nếu cắt như vậy sẽ làm giảm năng suất, đồng thời sẽ kích thích bụi tre sinh ra nhiều măng nhỏ và sẽ làm cho cả bụi tre bị chà, nhanh già cỗi, dễ bị trốc gốc và đổ ngã khi gặp mưa to gió lớn.

– Kỹ thuật khai thác thân khí sinh:

Phương thức khai thác chủ yếu là khai thác chọn, chỉ khai thác những cây từ 3 năm tuổi trở lên, không khai thác những cây dưới 3 năm tuổi. Khi rừng tre bị khuy (hiện tượng tre ra hoa và chết hàng loạt) thì khai toàn bộ để trồng lại rừng, mùa khai thác chính là mùa khô. Chiều cao gốc chừa lại không cao quá 20cm. Sau khi khai thác cần phải dọn vệ sinh rừng ngay, gom hết cành nhánh m khỏi rừng.

– Chế biến và sử dụng

Măng tre Mạnh tông sử dụng ăn tươi rất ngon, được nhiều người ưa chuộng. Ngoài ra, còn có thể sử dụng để đóng hộp hoặc chế biến măng khô xuất khẩu trong dân gian gọi là “măng lưỡi lợn”, loại thực phẩm cao cấp với chất lượng và giá trị cao được thị trường cả ở trong và ngoài nước ưa thích. Hơn nữa, tre Mạnh tông có thân khí sinh to, thẳng, cứng, vách thân dày nên thường dùng làm cột nhà, cột điện, cầu cống, nhất là làm ván ghép thanh để thay thế gỗ rất bền. Đặc biệt, hàm lượng holloxenlulose trong thân đạt tới 53%, kích thước xơ sợi khá lớn, chiều dài trung bình đạt tới 3,78mm, đường kính trung bình của sợi khoảng 19|im, nên tre Mạnh tông là loại nguyên liệu chất lượng cao để chế biến bột giấy (Đỗ Văn Bản, 2005a).

BÀI VIẾT LIÊN QUAN


BÀI VIẾT XEM NHIỀU

  • Cách chọn gà đá có vảy tam tài phủ địa
  • Bảng giá thức ăn cho heo tham khảo
  • Lập khẩu phần thức ăn cho heo thịt
  • Xem vảy gà chọi xấu
  • Ấp trứng tự nhiên (Ấp trứng bằng con mái)
  • Thức ăn của gà thả vườn
  • Những đặc điểm của chim Khướu tốt
  • Chuẩn bị cho gà đá ra trường
  • Chăm sóc sức lực gà nòi trước ngày đá
  • Kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc thỏ cái sinh sản