Mọt dài và cách phòng chống

Sơ lược về họ mọt dài

Họ mọt dài Bostrychidae đã được nghiên cứu từ thế kỷ thứ 18. Linné là người đầu tiên nghiên cứu về họ này, hai loài đã được mô tả là Bostrychus capucinus L và Sinoxylon ceratoniae L. Các tài liệu nghiên cứu sau này chủ yếu là phát hiện và mô tả những loài mới, còn tản mạn chưa hệ thống. Đến cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 những tài liệu nghiên cứu vẽ họ mọt dài đầy đủ hơn, đáng chú ý là tài liệu của Lesne, dựa vào những tư liệu và mẫu vật của đoàn điều tra khảo sát động vật ở Đông Dương và châu Phi để nghiên cứu định loại và vùng phân bố.

Trên toàn thế giới đã phát hiện được 518 loài (Bostrychidae + Lyctidae) phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Còn đối với vùng ôn đới chỉ phổ biến có hai loài. Bostrychus capucinus L và Sinoxylon perforans Schrank. Theo thống kê chưa đầy đủ thì cho đến nay trên toàn thế giới đã phát hiện được trên 600 loài thuộc họ mọt dài.

Sau hoà bình lập lại 1954, có một số kết quả điều tra đã được công bố. Theo tài liệu về kết quả điều tra côn trùng năm 1967 – 1968 của Viện Bảo vệ thực vật năm 1976 chỉ ghi nhận có bốn loài: Dinoderus minutus, Heterobostrychus sp, Rhizopertha dominica F và Xylion sp, nhưng bốn loài này được thu thập trên cây dại và cây trồng nông nghiệp như lúa.

Đặc trưng của họ mọt dài Bostrychidae

Họ mọt dài Bostrychidae cùng với Anobiidae, PtinidaeLyctidae hợp thành liên họ Bostrychoidea, (Coleoptera). Đối với họ Ptinidae ít hại gỗ, còn Bostrychidae, Lyctidae, và Anobiidae thì hại gỗ nghiêm trọng ở mức độ khác nhau, nhất là ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới như ở nước ta, thì tác hại do chúng gây ra rất lớn. Họ mọt dài Bostrychidae gây hại đối với các loại gỗ khúc ở rừng, gỗ dùng trong xây dựng, tre, gỗ dùng để trang trí nội thất, cũng có khi tấn công vào những cây gỗ sinh trưởng yếu, cây bị bão làm đổ, cây bị tổn thương về cơ giới. Nhưng mọt dài tấn công mạnh nhất vào những cây gỗ sau khi khai thác còn để ở các bãi gỗ trong rừng hoặc gần rừng.

Họ mọt dài Bostrychidae
Họ mọt dài Bostrychidae

Mọt dài trưởng thành có hình trụ, thân dài từ 2 – 3,2mm có màu đen, nâu cà phê, màu nâu hoặc nâu hồng, rất hiếm có màu kim loại, mắt kép ở vị trí xa nhau và đính ở hai bên đầu, có hình tròn hoặc hình ô van. Râu đầu có dạng chuỳ gồm 10 – 11 đốt được đính ở giữa mắt kép và chân hàm trên, chuỳ râu có ba đốt. Miệng phát triển, môi nhìn thấy rõ ràng, hàm trên to khoẻ, hàm dưới cũng phát triển, đốt gốc ngắn, đốt cuối cùng dài và có lông, xúc biện hàm dưới có bốn đốt, môi dưới phát triển, xúc biện môi dưới có ba đốt.

Đọc thêm  Kỹ thuật trồng Môn Sọ trên nương đồi, đất dốc

Ngực trước phát triển và gồ cao về phần trước và thường che lấp đầu, nhìn từ trên xuống không thấy đầu. Bề mặt tấm lưng ngực trước có những răng dạng vẩy cá, ở phần trước những răng này khoẻ, càng về sau những răng này nhỏ dần. Phiến thuỗn (scutellum) thường có hình tam giác, các góc tù, không nhọn. Ngực sau dài hơn ngực trước và ngực giữa.

Cánh cứng có những hàng chấm rõ ràng, cuối cánh cứng tạo thành mặt nghiêng cánh cứng. Đối với phân họ Bostrychidae thì trên bề mặt nghiêng cánh cứng còn có những răng hoặc gai đặc trưng cho loài, và thấy rõ ràng nhất ở con đực, còn con cái thì thường không có răng, hoặc răng không rõ ràng trên mặt nghiêng cánh cứng.


Bụng gồm có năm đốt nhìn từ phía dưới, những đốt này được kytin hoá, bề mặt thường có lông thưa hay dày là tuỳ theo từng loài, đối với các đốt bụng khi nhìn từ phía trên có tám đốt.

Bàn chân có năm đốt, đốt thứ nhất thường nhỏ, ngắn, nhìn từ phía dưới thấy rất rõ ràng. Đối với chân họ Dinoderinae thì đốt thứ nhất bàn chân không khác biệt nhiều với các đốt thứ hai, ba và bốn. Một đặc điểm đáng chú ý là đốt thứ 4 không bao giờ phân thuỳ.

Trứng có hình quả bí ngắn và có màu trắng sữa.

Sâu non trưởng thành có dạng cong hình chữ “C”, ngực khoẻ và có ba đôi chân ngực tương đối phát triển, thân có màu trắng ngà. Đầu sâu non thường ẩn dưới tấm lưng ngực trước, chân môi ngắn, rộng về chiều ngang, mắt đơn thường giảm. Hàm trên ngắn, rất khoẻ và được kytin hoá cao, hàm dưới và môi dưới nhỏ, thường ẩn dưới hàm trên, đốt thứ nhất của hàm dưới có hình trụ, hơi dài, xúc biện hàm dưới kém phát triển, râu đầu của sâu non ở bên cạnh chân hàm trên thường ngắn, có khi thoái hoá, râu gồm 2 – 3 đốt. Đốt thứ nhất ngắn, đốt thứ hai phát triển hơn, đốt thứ ba thường nhỏ và ngắn hơn các đốt trước nó. Ngực trước rộng hơn so với đầu và dài hơn so với các đốt ngực khác, nhìn từ phía lưng ngực giữa và ngực sau gần bằng nhau.

Bụng có 9 – 10 đốt, từ đốt thứ nhất đến đốt thứ tám mỗi đốt có một đôi lỗ thở ở hai bên. Không có chân bụng. Nhộng màu trắng sữa, nhìn từ phía lưng có thể thấy các đốt rõ ràng.

Theo Lesne (1938) và Lepesme (1944) thì riêng họ mọt dài Bostrychidae đã phát hiện được 79 giống gồm 455 loài có trên toàn thế giói, trong đó Việt Nam đã phát hiện được 15 giống gồm 334 loài. Nếu lấy trên toàn lãnh thổ Đông Dương thì có 16 giống, 35 loài chiếm 20% giống và 7,7% loài trên toàn thế giới.

Đọc thêm  Tính toán hiệu quả kinh tế trong sản xuất các loại nấm ăn

Họ mọt dài Bostrychidae sống phổ biến ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, như loài mọt tre Dinoderus minutus F hại tre rất nghiêm trọng và phân bố phổ biến ở vùng Đông Dương, và có thể nói hầu như nơi nào có trồng tre và sử dụng tre là nơi đó có loài mọt tre này phá hại.

BÀI VIẾT LIÊN QUAN


BÀI VIẾT XEM NHIỀU

  • Cách chọn gà đá có vảy tam tài phủ địa
  • Bảng giá thức ăn cho heo tham khảo
  • Lập khẩu phần thức ăn cho heo thịt
  • Xem vảy gà chọi xấu
  • Ấp trứng tự nhiên (Ấp trứng bằng con mái)
  • Thức ăn của gà thả vườn
  • Những đặc điểm của chim Khướu tốt
  • Chuẩn bị cho gà đá ra trường
  • Chăm sóc sức lực gà nòi trước ngày đá
  • Kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc thỏ cái sinh sản