Chăm sóc rong cảnh

Phân bón rong cảnh

Quá trình sinh trưởng của rong cảnh cũng giống như những thực vật ở trên cạn, không chỉ cần đến các yếu tố như ánh sáng, nhiệt độ và CO2 thích hợp, mà còn cần phải bón phân. Như chúng ta đã biết, phân bón cần cho thực vật là tổ hợp từ ba thành phần đạm, lân, kaii. Thực vật trên cạn có thể hấp thu dinh dưỡng trong không khí, nước và đất. Như hấp thu hy-đro và oxy trong nước, cacbon trong không khí; các nguyên tố đạm, lân, kaii và sắt…đều có trong đất; chỉ khi trong đất thiếu đi chất dinh dưỡng nào đó, mới tiến hành bón thêm để bổ sung. Cách thức hấp thu dinh dưỡng của rong cảnh thì khác, do hạn chế về môi trường, chúng chỉ có thể hấp thu từ nước; cho dù không bón thêm phân xuống tầng đáy mà chỉ thêm phân dạng dung dịch vào trong nước, rong cảnh cũng có thể sinh trưởng tốt.

Ba thành phần phân bón

Phân đạm: đạm có thể tạo ra tế bào, là thành phần tạo nên diệp lục tố. Nó có thể đẩy mạnh các quá trình hoạt động sinh lý trong cơ thể thực vật, làm cho thực vật tồn tại và phát triển trong thời gian khá dài. Vì thế, bón phân đạm điều độ có thể thúc đẩy khả năng quang hợp, kéo dài tuổi thọ của lá.

Thông thường, nếu hàm lượng đạm chứa trong cơ thể thực vật thấp thì cây sinh trưởng kém, ảnh hưởng đến sự phát triển của lá, phiến lá lộ ra màu xanh nhạt; khi thiếu đạm trầm trọng, lá úa vàng hoặc gân lá màu đỏ nhạt, những lá mới cũng có vẻ rút nhỏ lại. Nhưng khi chất đạm quá nhiều, cây sẽ bị lốp, không cứng cáp, dễ bị đổ rạp.

Phân đạm tồn tại trong nước dưới dạng muối nitrat (NO3 ) và muối amoni (NH4+). Những loại rong khác nhau có phương thức hấp thu phân đạm khác nhau. Như loài cỏ ớt có thể hấp thu trực tiếp amoniac (NH3) trong chất thải của cá nhiệt đới; còn các loại rong cảnh như hồ điệp đỏ, dương liễu lá nhỏ …phải có vi khuẩn chuyển hóa amoniac thành nitrat mới hấp thu được. Nếu nitrat trong nước nhiều quá, rong cảnh sẽ không thể hấp thu hết, mà nồng độ nitrat thì tăng lên theo lượng chất thải của cá và lá bị thối rữa. Do đó, cần thay nước kịp thời để giảm đi nồng độ nitrat, và để cân bằng các thành phần dinh dưỡng khác.

Phân lân: lân tham gia vào việc trao đổi chất và trao đổi năng lượng trong tế bào, làm cho thực vật sinh trưởng và phát triển bình thường, đặc biệt là thúc đẩy bộ rê phát triển sớm. Vì thế, bón một lượng phân lân thích hợp sẽ thúc đẩy bộ rễ ban đầu của rong cảnh phát triển.

Khi thiếu lân, rễ và thân của rong cảnh sẽ phát triển kém; lá sẽ biến thành màu xanh nhạt hoặc màu nâu nhạt. Nếu phân lân trong nước nhiều quá, sẽ thúc đẩy sự sinh sôi nảy nở của tảo, gây bất lợi cho ẹự sinh trưởng phát triển của rong cảnh. Cho nên khi bón phân lân, nến bón vừa phải và kịp thời.

Phân kali: kali có thể đẩy mạnh tác dụng đồng hóa Axit cacbonic trong cơ thể thực vật. Khi có kali, rong cảnh tăng cường hấp thu đạm, thúc đẩy việc hình thành hợp chất có chứa đạm, làm cho cây phát triển khỏe mạnh. Khi thiếu kali, những phiến lá ở phần dưới cây rong cảnh xuất hiện các đốm màu tía hoặc màu nâu đậm, phần đầu lá hoặc viền lá úa vàng rồi dần dần biến thành màu nâu, đốt cây ngắn. Ngoài ra, thiếu kali còn khiến cho những mầm non mới mọc trở nên nhạt màu đi, ức chế sự hình thành lục tố. Vì thế, phải bón hỗn hợp phân kali, đạm và lân một cách thích hợp, rong cảnh mới có thể sinh trưởng và phát triển bình thường.

duong lieu la nho

Nguyên tố vi lượng

Trong quá trình sinh trưởng của rong cảnh không chỉ cần có ba nguyên tố đạm, lân, kali mà còn cần đến những nguyên tố vi lượng như magie, sắt, lưu huỳnh, mangan…Nếu thiếu các nguyên tố vi lượng này, cũng sẽ khiến, cho rong cảnh kém phát triển.

Magie là một nguyên tố vi lượng quan trọng đối với việc hình thành diệp lục tố trong tế bào thực vật. Nếu không có magie,tế bào không thể tạo nên diệp lục tố, lá cùng sẽ không có màu xanh. Khi thiếu magie, gân lá trở nên sẫm màu và lá úa vàng đi. Thông thường, rong cảnh cần một lượng magie rất nhỏ; trong nước vốn đã có chứa lượng magie đủ cho rong cảnh hấp thu sử dụng. Nhưng cần phải thay nước thường xuyên, nếu không magie trong nước cũng sẽ bị tiêu hao hết.

Sắt là điều kiện cần thiết để tạo nên diệp lục tố trong tế bào, lượng sắt mà rong cảnh cần hấp thu nhiều hơn so với magie. Khi hàm lượng sắt tố không đủ, phiến lá có màu vàng nhạt, khi thiếu trầm trọng lá sẽ biến thành màu trắng, bệnh trạng phát sinh trên lá non trước, sau đó dần lan sang lá già. Vi lượng sắt thông thường ở dạng sắt (II) sunfat, rong cảnh hấp thu sắt rất nhanh, nhưng chỉ hấp thu được sắt ở dạng Ion Fe2+ hòa tan trong nước. Nếu độ pH trong nước hơi cao, hàm lượng oxy hoặc axit photphoric quá nhiều, thì sẽ dẫn đến hiện tượng Fe2+ oxy hóa thành Fe3+, mà rong cảnh lại không thể nào hấp thu được Fe3. Vì thế, khi dùng vi lượng sắt tốt nhất là dùng sắt EDTA có khả năng duy trì ion Fe2+

Mangan có thể đẩy mạnh sự phát triển trong thời kỳ đầu của rong cảnh. Khi thiếu mangan, bề mặt lá của rong cảnh có hiện tượng khô héo úa vàng, nhưng gân lá vẫn có màu xanh. Khi thiếu mangan nghiêm trọng, trên phiến lá sẽ xuất hiện những đốm nâu.

Điều đó cho thấy, sự thiếu mangan và hàm lượng sắt quá nhiều có liên quan với nhau.


Ngoài những nguyên tố vi lượng trên, còn có các nguyên tố vi lượng khác như lưu huỳnh, canxi, kèm, đồng, bo, clo… Chúng cũng rất cần thiết cho sự sinh trưởng của rong cảnh, nếu thiếu một nguyên tố nào trong số đó cũng sẽ làm cho rong cảnh phát triển không tốt. Thông thường, ở hoàn cảnh thiếu một nguyên tố nào dó, rong cảnh sẽ khó hoặc không thể hấp thu được nguyên tố nào khác; ngược lại, khi quá thừa một nguyên tố nào đó cũng sẽ không thể hấp thu được nguyên tố nào khác.

Bón phân tầng đáy

Do lớp sỏi dưới đáy bể không có chất dinh dưỡng, đặc biệt là các loại phân cẩn thiết như đạm, lân, kali nên trước khi trồng rong cảnh cần phải bổ sung phân bón cần thiết vào lớp sỏi ở đáy bể, để cung cấp dinh dưỡng cần cho sự sinh trưởng của rong cảnh.

Có thể chia thành ba hình thức bón phân tầng đáy như sau: Thứ nhất, trước khi trồng rong cảnh, trộn phân với lớp sỏi ở đáy bể làm phân bón lót, kiểu này thích hợp với loại rong cảnh có bộ rễ phát triển mạnh như cỏ ớt. Trước đây có người trộn phân gà với sỏi làm phân bón lót, nhưng như vậy dễ ảnh hưởng đến chất lượng nước, không nên áp dụng. Cách thứ hai là chôn phần dưới chỗ gần bộ rễ của rong cảnh, nhưng phải chôn phân cách xa bộ rễ khoảng 2- 3 cm, nếu không sẽ làm cho bộ rể bị thối rửa. Cách thứ ba là trộn phân với một ít nước, nhào dẻo, để khô rồi nặn thành những miếng phân khoảng 1 – 4cm2 lớn nhỏ khác nhau. Khi bón phân, phải căn cứ vào rong cảnh lớn hay nhỏ mà bón những miếng phân lớn nhỏ khác nhau. Thông thường, rong lớn thì bón miếng phân khoảng 2 – 3cm2, rong nhỏ bón miếng khoảng 1cm2 là được. Nhưng cần bón cách xa bộ rễ khoảng 3 – 4cm, nếu không dễ khiến cho bộ rễ bị thối. Mặt khác, phân bón xuống tầng đáy phải được vi khuẩn phân giải thì rong cảnh mới có thể hấp thu.

Đọc thêm  Phương pháp trồng rong cảnh

Phân bón dạng lỏng

Phân bón dạng lỏng là loại phân chất lượng cao được tổng hợp từ nhiều loại chất dinh dưỡng, có tác dụng tốt đối với sự sinh trưởng và phát triển của rong cảnh. Khi bón phân, cần phải thay 1/3 nước trong bể rồi mới để phân vào. Không nên bón phân quá nhiều,nếu nồng độ cao quá chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới loài rong cảnh như cỏ ớt, do sức đề kháng của cỏ ớt đối với sự thay đổi quá trình thẩm thấu rất yếu, nếu sự thay đổi quá lớn, phiến lá của cỏ ớt dễ bị rữa ra. Mạt khác, sau khi các nguyên tố cần thiết trong phân bị oxy hóa sẽ đóng cặn trong bể nước, hiện tượng này không những sinh ra những chất độc có hại cho rong cảnh mà còn khiến cho các loài tảo sinh sôi.

Những loại phân bón dạng lỏng thường dùng như phân Dupla sản xuất tại Đức, phân này có chứa 26 loại chất dính dưỡng cung cấp cho nhu cầu của rong cảnh. Phân Sera có hàm lượng sắt phong phú và các khoáng chất cần thiết cho rong, có thể cưỡng chế sự phát triển của tảo lam, tảo lục và tảo lông. Còn phân Tetre Flora Pride là loại phân dinh dưỡng giúp cho rong cảnh sinh trưởng mạnh. Chúng không chỉ được lá rong cảnh hấp thu mà còn có thể làm cho bộ rễ vững chắc hơn.

Nước và sự dao động của nước

Nguồn nước

Một điều kiện quan trọng đối với sự sinh trưởng phát triền của rong cảnh chính là nước. Nguồn nước chúng ta dùng để trồng rong cảnh đa số là nước máy. Nước máy không chỉ thiếu nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho rong cảnh, mà còn chứa những hợp chất không có lợi cho rong như nồng độ nitrat cao; nitrat tuy vô hại đối với cơ thể người nhưng lại bất lợi cho sự sinh trường phát triển của rong. Vì thế, cần phải điều chỉnh thành phần dinh dưỡng trong nước máy, ví dụ như phải thêm vào nguyên tố kali.

Rong cảnh có nhiều loại khác nhau nên yêu cầu đối với chất lượng nước cùng khác nhau. Thông thường, điều kiện thích hợp cho sự sinh trưởng của rong cảnh là độ pH khoảng 6,0 – 7,0 và độ KH (độ cứng của nước) khoảng 2 ~ 3°dH. Nếu độ cứng của nước vượt quá 10°dH, thì phải điều chỉnh lại chất lượng nước.

Những yếu tố làm thay đổi chất lượng nước

Bản thân rong cảnh cũng có thể thay đổi chất lượng nước. Như khi rong cảnh tiến hành quá trình quang hợp vào ban ngày, phải tiêu hao CO2 và một số khoáng chất hữu cơ, còn oxy thì tiêu hao cả ngày. Quá trình quang hợp của rong cảnh là hấp thu CO2, thải oxy, dẫn đến độ pH trong nước tăng cao, bề mặt lá xuất hiện cặn canxi cacbonat (đá vôi). Nếu bỏ thức ăn cho cá quá nhiều sẽ khiến cho rong cảnh ngừng phát triển, thành phần dinh dưỡng chứa trong lá cây thối rữa hòa tan vào nước, làm cho thành phần dinh dưỡng trong nước tăng cao, hàm lượng oxy giảm xuống thấp.

Đời sống của cá nhiệt đới cũng có liên quan đến sự thay đổi chất lượng nước. Cá sẽ hấp thu một lượng lớn oxy chứa trong nước, đổng thời thải phân ra. Trong chất thải của cá có chứa các hợp chất như axit uric và amonỉac. Đồng thời, những vi khuẩn ưa oxy trong nước lại hòa tan các hợp chất này, chuyển hóa thành khoáng chất. Vì thế, cũng tiêu hao lượng oxy lớn. Điều này cũng dẫn đến lượng cacbonat và nitrat tăng lên dần, độ cứng và độ pH cũng dần giảm xuống.

Sự dao dộng của nước

Tạo ra sự dao động thích hợp trong bể nước có thể làm cho chất nước, nhiệt độ và CO2 cân bằng, có lợi cho sự sinh trưởng của rong cảnh. Sự dao động của nước có thể ức chế sự phát triển của loài tảo, nhưng không nên quá mạnh, để tránh ảnh hưởng đến dáng dấp của rong cảnh.

Máy lọc là động cơ sản sinh ra sự dao động của nước. Ngoài ra, nó còn có thể làm tăng thêm dung lượng oxy, tẩy trừ chất vẩn đục trong nước làm cho nước trong suốt, thúc đẩy vi khuẩn nitơ hóa sinh sôi trong nước, có lợi cho việc phân giải phân bón. Nếu sự dao động của nước quá mạnh oxy sẽ tăng lên nhiều, đồng thời cũng bài trừ CO2 làm cho hàm lượng CO2 giảm đi, bất lợi cho sự sinh trưởng của rong cảnh. Do đó, không nên để sự dao động của nước quá mạnh và giảm bớt những yếu tố bất lợi.

Thay nước

Tại sao phải thay nước thưởng xuyên. Do rong cảnh và cá làm thay đổi chất nước trong bể, làm cho độ pH tăng lên hoặc giảm xuống, hàm lượng photphat và nitrat cũng sẽ thay đổi, độ KH giảm hoặc tăng, không có lợi cho sự sinh trưởng bình thường của rong cảnh. Cho nên, việc thay nước vô cùng quan trọng, không nên sợ phiền phức.

Vậy, nên thay nước như thế nào? có nhiều ý kiến khác nhau, người thì cho rằng nên thay 1/3 nước trong bể, cũng có người cho rằng chỉ nên thay 1/5. Thay 1/5 nước thì thích hợp với bể nuôi rong nhiều, nhưng lại không thích hợp với bể có nhiều cá nhiệt đới. Do cá chiếm ưu thế trong bể, hàm lượng chất cặn photphat và nitrat cao nên khi thay nước phải căn cứ vào tỷ lệ rong cảnh và cá trong bể để xem nên thay nhiều hay ít. Ở một số nơi nước máy có độ cứng rất lớn, trước khi thay nước phải tiến hành xử lý cho thích hợp. Cách đơn giản nhất là bỏ một miếng táo chua vào trong nước để cho độ cứng và độ pH giảm xuống.


Điều kiện ánh sáng

Ánh sáng là điều kiện quan trọng cho thực vật thực hiện quá trình quang hợp, rong cảnh sinh trưởng trong môi trường nước cũng không ngoại lệ. Nếu không có ánh sáng, cũng sẽ không thể tồn tại thế giới màu xanh. Tuy nhiên, không phải tia sáng nào của ánh mặt trời cũng đều có lợi cho thực vật. Những tia sáng thực vật dùng trong quá trình quang hợp chỉ là tia có bước sóng 650nm và tia có bước sóng 470nm. Độ chiếu sáng (lx) của ánh sáng tự nhiên từ sáng sớm đến giữa trưa là từ 3000lx lên đến 6000lx (tương đương với bóng điện 50 – 100W), từ quá trưa đến hoàng hôn lại dần dần giảm xuống. Do nhiệt độ ánh sáng ban ngày chiếu xuống không giống nhau nên có ảnh hưởng khác nhau đến sự sinh trưởng của thực vật. Qua phân tích chọn lựa, người ta đã phát hiện ra việc sử dụng ánh sáng đèn có màu sắc ấm (khoảng 3600lx) có thể thúc đẩy rong cảnh trong bể phát triển dài ra; còn ánh sáng đèn có màu sắc lạnh (khoảng 6000lx) thì có thể đẩy mạnh sự phát triển của rong cảnh mọc chùm. Một số loài rong cảnh có tính chọn lựa ánh sáng; như loài cỏ lông chim, ban ngày có hình dạng bình thường, nhưng từ 22:00 – 24:00h lá của chúng lại đứng chụm vào nhau ở trạng thái ngủ. Do đó, kinh nghiệm cho ta thấy, ánh sáng quá nhiều hay quá ít đều không có lợi cho sự sinh trưởng của rong cảnh.

Đọc thêm  Xử lý quả cà phê giống

Ánh sáng chiếu trong không khí khác với ánh sáng chiếu trong nước; cụ thể là ánh sáng chiếu vào không khí theo đường thẳng, còn chiếu vào trong nước với hình thức lan rộng, Theo nghiên cứu, dưới mặt nước 20cm ánh sáng chỉ có 80%, dưới 30cm có 65%, dưới 40cm có 50% và càng xuống sâu ánh sáng càng yếu.

Khi chọn nguồn ánh sáng, cần căn cứ vào công dụng và đặc điểm của các loại đèn. Đèn nê ông huỳnh quang chỉ có thể chiếu sáng trên mặt nước; còn bóng dạng tròn như đèn thủy ngân hoặc đèn halogen kim loại chỉ chiếu sáng được một điểm nhất định. Nhưng xét về lợi ích, tốt nhất nên sử dụng đèn nê ông dạng ống. Căn cứ vào lượng chứa của bể lớn hay nhỏ mà lắp từ 3 ~ 6 ngọn đèn nê ông. Nếu muốn rong cảnh sinh trưởng tốt, thì mỗi lít nước cần lượng ánh sáng tối thiểu là 30 ~ 50lm/W.

Nhiệt độ nước

Rong cảnh mặ chúng ta trồng đa số là giống nhiệt đới, thông thường ở nhiệt độ khoảng 25°C là có thể phát triển tốt. Một số rong cảnh như cỏ nhung, cỏ kim ngư, cỏ táo, rong đen, cỏ rết có thể sinh trưởng ở nhiệt độ 15 ~ 20°C; còn có một số loại rong như tiểu thủy lan, huyết tâm lan, cỏ bốn lá,cỏ tô nô…thì có thể sinh trưởng ở nhiệt độ khoảng 30°C. Cho nên, cần căn cứ vào chủng loại rong cảnh trồng trong bể nhà mình mà điều chỉnh nhiệt độ nước.

Ở ba mùa xuân, hạ, thu, nhiệt độ nước trong bể có thể thoả mãn nhu cầu sinh trưởng của rong cảnh. Nhưng đến mùa đông lạnh giá, nhiệt độ nước trong bể rất lạnh, cần điều chỉnh cho ấm lên. Thông thường, có hai cách làm ấm: một là gắn sợi đây nhiệt điện dưới đáy bể để tạo ra nhiệt. Hai là dùng que thạch anh gia nhiệt hoặc thảm gia nhiệt dể đảm bảo sự cân bằng nhiệt độ nước trong bể.

CO2 và Độ PH

Bổ sung CO2

CO2 là nguồn dính dưỡng chủ yếu cho thực vật tiến hành quang hợp, nếu không có CO2 thực vật khó mà sinh tồn được. Thực vật sống trên cạn thì sử dụng CO2 trong không khí để quang hợp, còn rong cảnh sống ở sông ngòi thiên nhiên thì dùng CO2 có trong nước; do nước suối, nước mưa đều chứa lượng CO2 phong phú, nên chúng phát triển rất mạnh mẽ. Rong cảnh trồng trong bể đa số là lây CO2 trong nước máy, nhưng qua thời gian dài CO2 sẽ dần tiêu hao hết, khi đó phải bổ sung kịp thời.

Có hai cách bổ sung CO2. Cách thứ nhất là bổ sung trực tiếp, gắn hộp khuếch tán không khí vào cửa thoát nước của máy lọc để không khí truyền vào biến thành thể CO2, những bong bóng li ti đó sẽ khuếch tán trong nước; như vậy, nước trong bể có thể hòa tan CO2một cách hiệu quả. Cách thứ hai là khoét một lỗ trên ống dẫn của lưới lọc ở cửa vào nước của bể nước, gắn đầu ống dẫn khí vào, nhờ nó truyền CO2 vào cũng rất hiệu quả.

Sử dụng hộp khuếch tán bổ sung CO2 chính là tạo điều kiện cho CO2 trong hộp khuếch tán tiếp xúc trực tiếp với dòng nước trong máy lọc. Lúc đó, CO2 trong hộp khuếch tán nhanh chóng hòa tan vào nước trong vài phút. Nhưng nồng độ CO2 tan vào nước phải được đo bằng máy trắc nghiệm; nếu nồng độ quá thấp sẽ không đáp ứng đủ cho nhu cầu quang hợp của rong cảnh, còn nếu nồng độ quá cao sẽ làm cho vi khuẩn nitơ hóa chết và cá bị ngạt.

Mối liên hệ giữa CO2 và độ pH

CO2, độ pH và đò cứng của nước có quan hệ mật thiết với nhau; cũng có thể nói ràng, dưới nồng độ nitrat nhất định, cần bao nhiêu CO2 để giữ cho độ pH được trung tính. Ví dụ, khi độ cứng của nước là 4°dH, cần phải có 30mg/l CO2 mới có thể giữ cho độ pH ở 6,6.

Lượng CO2 hòa tan đo được trong độ KH và độ pH
Lượng CO2 hòa tan đo được trong độ KH và độ pH

Ngoài ra, còn có một loại dụng cụ có thể đo được hàm lượng CO2 qua ba màu sắc: vàng, xanh da trời, xanh lá cây. Như màu xanh da trời là biểu hiện môi trường bazơ, chứng tỏ hàm lượng CO2 quá ít; màu xanh lá cây biểu hiện môi trường trung tính, độ pH khoảng 6,0 – 7,2, đây là độ pH lý tưởng; còn màu vàng là biểu hiện môi trường axit cho thấy hàm luợng CO2 quá nhiều. Vì thế, mỗi khi thay nước xong cần kiểm tra độ cứng của cacbonat để biết rong cảnh có thực hiện được quá trình đồng hóa cacbonat hay không. Nếu lượng CO2 trong nước không đủ, cần phải điều chỉnh cho thích hợp.

Cấy vi khuẩn nitơ hóa

Vi khuẩn nitơ hóa có vai trò rất quan trọng đối với việc cân bằng môi trường sinh thái trong bể nước. Nó không chỉ có thể phân giải chất thải của cá, mà còn chuyển hóa thành những khoáng chất và vitamin cần thiết cho rong cảnh; đồng thời, còn có thể phản giải phân dưới đáy bể cho rong cảnh hấp thu. Cho nên, vi khuẩn nitơ hóa có liên quan mật thiết với rong cảnh.

Cách cấy vi khuẩn nitơ hóa: Sau khi thêm nước vào bể, khởi động máy lọc, nếu nhiệt độ nước là 22 – 23°C, mấy ngày sau nước bể sẽ trong vắt; nếu nước không trong thì nên dùng thiết bị lọc cũ (như xốp biển…), hoặc gắn máy lọc đã dùng trong nuôi cá (dùng máy lọc chứ không dùng chất tẩy), như vậy đã có thể cấy được một số vi khuẩn. Ngoài ra, có rất nhiều vi khuẩn nitơ hóa sống ký sinh trên rong cảnh, trên những viên sỏi dưới đáy bể, trên những mảnh gỗ chìm; khi nước dao động, chúng cũng sẽ mau chóng bám lên thiết bị lọc, hình thành quần thể vi khuẩn mới.

BÀI VIẾT LIÊN QUAN