LIÊN HỆ QUẢNG CÁO: 0989.467.685 - info@caytrongvatnuoi.com

Nghề nuôi lươn

22/07/2017, 08:00 AM

Con lươn- mặt hàng thủy sản hấp dẫn và được giá

Lươn là loại thủy sản phổ biến ở nước ta. Thịt lươn ngon, bổ va thường được coi là món ăn cao cấp. Xúp lươn, cháo lươn, miến lươn, chả lươn, lươn om, lươn hun khói, lươn xào… là những món ăn phổ biến trong nhân dân.

Lượng đạm trong thịt lươn tươi 18,37%. Trong y học người ta nói rằng, thịt lươn còn có tác dụng an thần. Người mắc bệnh khó ngủ nên ăn thêm cháo lươn. Trẻ con bị còi xương, dùng xương lươn rất tốt. Máu lươn cũng có thể chữa được bệnh cảm cúm, v.v…

Các nhà sinh học còn coi lươn là một đối tượng nghiên cứu thú vị vì nó có quá trình biến cơ thể cái thành đực – một hiện tượng hiếm hoi.

Từ lâu, lươn là mặt hàng xuất khẩu đặc biệt mà Scaprodex đã từng giới thiệu. Rất tiếc ta chưa bao giờ lo đủ số lượng tối thiểu cho thị trường thế giới. Lươn đông lạnh, lươn tẩm dầu hun khói, lươn tươi… là những mặt hàng hấp dẫn mà bạn bè luôn luôn trông đợi. Trước đây chúng ta tổ chức mua gom ở phía Bắc, việc xuất khẩu lươn sống mỗi năm lên tới hàng trăm tấn, ở phía Nam, trước ngày giải phóng, mỗi năm Bạc Liêu cùng thu được 1.000 tấn, còn Châu Đốc là 2.000 tấn. Tất cả lượng lươn này đều được thu bắt trong tự nhiên.

Bạn bè chung ta ở khắp năm châu đều thích ăn lươn. Tại Đức, món lươn hộp chỉ được dùng vào các bữa tiệc để chiêu đãi khách quý. Ở Hà Lan, giá 1kg lươn lên tới 20,8 đô la (6 – 1988). Gần đây, thị trường Trung Quốc mới hé mở mà ta đã không có đủ lươn cung cấp cho bạn. Người ta mua vét ở khắp nơi và dồn lên biên giới. Ai có nhiều lươn lúc này cũng dễ dàng trở nên giàu có.

Chúng ta đều biết, điều kiện khí hậu của Việt Nam rất phù hợp cho lươn phát triển. Ở đâu cũng có lươn. Rất tiếc, tình trạng khai thác triệt để như hiện nay đã làm cho nguồn lươn trong tự nhiên ngày càng khan hiếm, khả năng cung cấp cho thị trường cùng kém đi rõ rệt. Vì vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta phải mau chóng đưa việc nuôi lươn vào hoạt động bình thường của mọi gia đình. Con lươn cần trở thành một con vật nuôi. Nó sẽ giúp được nhiều việc mà trước hết là nhanh chóng tăng thu nhập cho bạn. Không nên coi thường việc nuôi lươn.

Nuôi được 1 tạ lươn không khó. Tuy nhiên. với một tạ lươn bạn đã dễ dàng có được một vài triệu đồng. Nhưng tại sao lại chỉ là một tạ? Chúng ta đủ sức tổ chức để mỗi gia đình có thể sản xuất được một vài tạ lươn. Những người đi trước đã giúp chúng tôi chứng minh được điều này.

Một số đặc điểm sinh học của lươn

Đặc điểm về phân loại

Ở nước ta, lươn chỉ có một số loại. Giữa hai miền Nam Bắc có những tên gọi khác nhau.

Ở phía Bắc, chỉ có một loài duy nhất là Monopterus albus Zuiew. Loài này nhỏ. trọng lượng có thể từ 0,1-0,3kg.

Ở phía Nam có một loài lươn đồng FIuta Alba giống như lươn phía Bắc. Tuy nhiên, lươn phía Nam thường lớn hơn, có con nặng tới 1kg. Ngoài ra, ở phía Nam, đồng dạng với lươn còn có loài lịch đồng (Svnbranchus bengalcnis) và loại lịch sông (Macrotrema caliguns)

Cần lưu ý sự nhầm lẫn giữa lươn và cá chình (angnila japonica) vì 2 con này trong tiếng Anh đều gọi là “eel”. Thời kỳ còn nhỏ, 2 loài này trông cũng giống nhau. Tuy nhiên, khi lớn lên chúng khác nhau hoàn toàn.

con luon

Đặc điểm về sinh trưởng

Chúng ta cần biết ràng, lươn lúc đầu luôn luôn là lươn cái. Sau khi đẻ, lươn cái biến thành lươn đực. Càng về sau đuôi lươn càng dài hơn. Vì vậy, lươn đực có đuôi dài hơn lươn cái.

Khi tiến hành giải phẫu hàng loạt lươn, chúng tôi thấy trong năm đầu, tỷ lệ lươn cái là chủ yếu. Tới năm thứ hai, lươn đực cái xấp xỉ nhau. Tới năm thứ ba, lươn đực chiếm đa số.

Những lươn có độ dài từ 22 – 26cm hoàn toàn là lươn cái. Thế còn, lươn dài từ 44 – 48cm có lượng đực, cái tương đương nhau. Đại bộ phận những lươn dài trên 54cm là lươn đực.

Đọc thêm  Giới thiệu nghề nuôi lươn

Lúc mới nở, lươn lớn tương đối nhanh. Năm đầu có thể đạt được 35cm. Chúng tăng trọng mạnh nhất vào năm thứ 3 trở đi.

Trong các đợt khảo sát của chúng tôi, ở miền Bắc, lươn lớn nhất dài 62cm và nặng 0,268kg. Còn ở miền Nam, con to nhất, dài 69cm và nặng tới 1,050kg.


Gia đình ông Thái Triều Thắng ở hợp tác xã 2, xã Điện Hoà, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng đã nuôi lươn. Ông mua giống lươn phía Nam về thả. Cỡ giống: 43 con/kg. Ông nuôi 4 tháng rưỡi, bình quân mỗi con nặng tới 300g. Con lớn nhất cân nặng 350g.

Đặc điểm về sinh sản

Như đã nói, lươn cái đẻ xong có hiện tượng chuyển hoá thành lươn đực. Khi xem xét những lươn ở độ dài từ 36-47cm chúng tôi thấy có một số lươn ở thời kỳ lưỡng tính: trong tuyến sinh dục của chúng có cả tinh sào (ở con đực) và trứng (ở con cái) xen lẫn nhau. Càng về sau trứng càng tiêu giảm và sinh sào càng lớn lên. Tới một giai đoạn nào đó, chúng biến hoàn toàn thành con đực.

Mùa hoa gạo là mùa lươn ở phía Bắc đẻ (khoảng cuối tháng 3 đầu tháng 4). Tuy nhiên tới tận tháng 8-9 và cả tháng 11, rải rác vẫn bắt gặp những lươn cái mang trứng có kích thước lớn (đường kính trên 1mm).

Ở phía Nam, lươn thường đẻ muộn hơn, vào tháng 4-5.

Lươn sống ở đồng ruột thường đẻ sớm hơn lươn sông ở các đầm, hồ, ao. Lươn phát dục sớm. Ở lươn có chiều dài 28cm mà đã thấy có đến 96 trứng vào giai đoạn sắp đẻ. Lươn cái thường phát dục sớm hơn lươn đực. Khu vực nào có thức ăn phong phú thì lươn mau đẻ.

Trứng lươn rất nhiều. Con càng lớn càng mang nhiều trứng. Số lượng trứng có thể di động từ 200 – 500 trứng tuy thuộc vào kích cỡ của lươn. Ngay trong một buồng trứng cũng có nhiều kích thước trứng khác nhau. Vì rằng, lươn đẻ làm nhiều lần, mỗi lần khoảng 50 trứng, ở các tổ đẻ của lươn có số lượng trứng rất khác nhau, nó xê dịch từ vài chục tới vài trăm trứng.

Lươn thường tìm những bờ ruộng, bờ ao hoặc men các mương máng có đất sét pha đất thịt làm nơi đẻ. Đôi khi chúng chọn cả những mô đất cao nhô lên giữa ruộng

Trước mùa đẻ, lươn đực có nhiệm vụ làm tổ. Nó dùng đuôi để khoét hang. Hang đó thường hình chữ “U”. Nó cao hơn mặt nước ruộng khoảng 10cm. Toàn bộ khu vực tổ thường có 3 ngách:

Một ngách phụ thường thẳng góc với bờ ruộng để thông khí cho lươn thở. Ngách này thường có sẵn trong tự nhiên thông qua các vết nứt ở bờ.

Ngách thứ 2 nằm sâu dưới bùn và thông lên với ngách trên. Đây là ngách chính để tổ đẻ.

Ngách thứ 3 là ngách từ trên bờ vòng xuống để tạo ra chữ “U”.

Ngoài ra, tổ đẻ của lươn còn có thể có thêm một vài ngách phụ thông ra bờ ruộng.

Sau vụ nuôi lươn, chúng ta phá ụ đất để thu hoạch. Chúng tôi quan sát thấy hệ thống ngóc ngách của lươn đan chéo nhau chằng chịt, ở nhiều đoạn, chúng phình to ra như ổ chuột. Trong chứa đầy lươn. Mỗi ổ như vậy thường có tới 15-20 con lươn. Các ổ đó thông với nhau. Khi thu hoạch, ta móc ra ở đó hàng búi lươn.

Trước lúc lươn cái tới đẻ trứng, lươn đực chui vào và phun đầy bọt trong tổ đẻ. Sau đó đến lượt lươn cái vào đẻ trứng lên đám bọt đó. Lúc đầu đám bọt có màu trắng, kích cỡ lớn hơn bọt của cá rô cờ (Macropodus Chinensis). Khi trứng sấp nở, đám bọt đó ngả sang màu vàng.

Người bắt lươn thường coi đám bọt trào ra ở các lỗ bờ là một hiện tượng biểu hiện của ổ lươn.

Giống như nhiều loài khác, vào mùa hè, lươn rất dữ. Khi có vật lạ thò vào ổ đẻ, nó cắn ngay. Thậm chí, khi mới đẻ mà nghe có tiến động mạnh là nó nuốt cả trứng của nó vào bụng.

Vào tiết trời nắng ấm, có gió đông nam và nhiệt độ của nước khoảng 25-26ºC, đặc biệt là sau những trận mưa rào, lươn thường đẻ rộ. Nó đẻ vào sáng sớm. Lúc này, lươn đực làm nhiệm vụ canh gác cho tổ đẻ. Chúng gác gần một tháng trời, tới khi lươn con nở và bơi ra khỏi hang, lươn đực mới bỏ đi.


Đọc thêm  Đàn cá trê hồng hơn 20 con ở miền Tây

Lươn mới nở ra có một bọc noãn hoàng lớn ở bụng. Đó là nguồn thức ăn nuôi dưỡng chúng trong những ngày đầu. Chúng ít hoạt động, chỉ thỉnh thoảng quậy hơi nhẹ nhàng, 8 ngày sau, trên cơ thể nó có nhiều biến đổi: vây ngực tiêu biến dần để cuối cùng chỉ còn là một điểm chấm: bọc noãn hoang bé đi và thu thành một dải nhỏ nằm dưới bụng lươn; các mạch máu bao quanh noãn hoàn và vây ngực cũng thu nhỏ lại và ít dần.

Khoảng 2-3 ngày tiếp theo chúng ta thấy noãn hoàng tiêu biến hết, trên thân lươn xuất hiện nhiều nhiễm sắc tố đen, mạch máu không thấy rõ nữa. Lúc này lươn bơi khoẻ hơn, thân dài ra mang dáng dấp của một chú lươn thực thụ.

Toàn bộ quá trình đó mất khoảng 10 ngày.

Thành phần thức ăn và hoạt động bắt mồi của lươn

Qua khảo sát, chúng tôi thấy, thành phần thức ăn của lươn ở các tuổi khác nhau có thay đổi. Ở những con lươn dài có 20 – 30cm ta chỉ thấy trong ruột chúng có giun nước. Còn kích cỡ trên 40cm ta thấy giáp xác, giun nước, ốc và cả côn trùng.

Chúng ta có thể nắm được thành phần thức ăn của lươn bằng cách mổ ngay ra để xác định trong ruột của chúng có những gì. Kết quả phân tích cho thấy, lươn ăn rất tạp. Thức ăn chính của nó là giun nước, giáp xác (như: tôm, cua, tép…), các loại côn trùng (cánh cứng, niềng niễng, muỗi, kiến, ấu trùng của chuồn chuồn…) và ốc, cá. Ngoài ra, còn tìm thấy trong ruột của chúng một số chất lạ như: mùn, đất sét, lá lúa, mảnh rạ. v.v…

Có thể khẳng định rằng, lươn là loài ăn tạp. Chúng ăn các thức ăn động vật có chất tanh là chính. Còn thức ăn thực vật, chúng cũng ăn nhưng ít và không lựa chọn khắt khe như một số loài động vật khác.

Mùa lươn đẻ, lươn hầu như không ăn. Lươn bắt mồi mạnh nhất vào tháng 5 – 7. Khứu giác của lươn rất tốt nên chúng đánh hơi, tìm mồi giỏi. Ban ngày, chúng nấp trong hang hoặc nhô đầu ra cửa hang để rình mồi. Những chú tôm, tép vô phúc đi qua sẽ bị chúng đớp ngay. Đêm xuống, chúng mò ra khỏi hang, đi lang thang kiếm ăn. Chúng tôi đã bắt gặp trường hợp, khi mổ một con lươn dài 43cm thấy trong ruột của nó có một con lươn dài 8cm. Như vậy là, chúng cũng có thể ăn lẫn nhau. Điều này nhắc nhở chúng ta khi nuôi lươn phải để tâm tới.

Quan sát thấy, lươn béo nhất vào lúc đang đẻ (tháng 2 – 3) và vào mùa thu (tháng 8 – 9).

Lươn đực béo hơn lươn cái cùng tuổi. Tuổi càng cao, lươn càng béo. Lươn cái đẻ xong sẽ tích cực đi tìm mồi. Chúng hồi phục độ béo vào mùa thu…

Thời kỳ bắt lươn

Trước hết, phải xác định nơi lươn thích ở. Đó thường là những chỗ đất bùn hoặc đất thịt pha sét. Màu sắc của lươn gần giống với đất ở đáy. Khi có động, chúng lủi và lẫn nhanh vào trong môi trường.

Lươn hoạt động mạnh vào mùa hè. Nó thường đi kiếm ăn sau các trận mưa rao. Cũng có lúc ta bắt gặp chúng kéo nhau đi thành đàn.

Khi gió mùa đông bắc tràn về, lươn chui sâu xuống bùn. Có trường hợp ta thấy chúng sống được 2 – 3 tháng dưới lớp đất sâu tuy trên mặt đất đã khô nứt nẻ, chúng có các cơ quan hô hấp qua miệng, ruột và da.

Thời kỳ bắt lươn bằng tay chủ yếu vào mùa lươn đẻ (mùa mưa). Còn mùa khô (tháng 11 – 4) người ta thường bắt lươn ở các đầm, ao hoặc ruộng cạn nước.

Thòi kỳ bắt lươn bằng ống trúm thường vào tháng 5 – 10 ở các ao, hồ, đầm, kênh, mương, sông, ngòi… Ống trúm thường được làm bằng một đoạn ống nứa lớn, một đầu có mắt, đầu kia có hom (hay vỉ) ngăn ở đầu. Trong ống ta bỏ các loại mồi tanh hôi như cá ươn, giun đất hoặc cua đã băm nhỏ…

Người ta thường đi cắm trúm vào 5 – 6 giờ chiều.

Sáng hôm sau đi thu hoạch. Đôi khi có ống thu được tới 3 – 4 con.

Bình Luận